Địa danh Việt Nam có thành tố "Bà"

Văn Hóa Việt Nam và Thế Giới

Địa danh Việt Nam có thành tố "Bà"

Gửi bàigửi bởi vu thi chinh » Thứ 7 Tháng 5 12, 2012 4:44 am


1.Trong địa danh Việt Nam có hằng trăm tên đất mang thành tố chung Bà ở trước. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ khảo sát một số địa danh tiêu biểu cho mỗi loại. Ở mỗi địa danh, chúng tôi tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa căn cứ vào các tài liệu đã được công bố.

2.1.Trước hết là địa danh mang từ Bà với nghĩa phổ biến nhất. Đây là từ gốc Hán Việt chỉ người phụ nữ đã có con và đã được Việt hoá từ xa xưa nên có thể xem như là một từ thuần Việt.

2.1.1.Bà Tư là tên một cồn cát ở xã Thới Thuận, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Ban đầu mang tên cồn Trẹt. Bà Tư là bà Võ Thị Phò, thường gọi Tư Phò, vì đầu thế kỷ 20, bà đến lập nghiệp nơi đây. Bà kiên trì bám trụ, ủng hộ kháng chiến, có chồng và hai con là liệt sĩ, được phong danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng [18].

Bà Đồ là xóm thuộc vùng Bình Thuỷ xưa, nay thuộc xã Long Tuyền, cách thành phố Cần Thơ 5km về phía Long Xuyên. Đây là nơi các văn nhân tụ hội xướng hoạ. Bà Đồ có chồng dạy học. Chồng qua đời, bà tiếp tục dạy nên dân làng gọi là xóm Bà Đồ [7, 110].

Bà Mụ là cầu nằm trên đường Nguyễn Huệ, thuộc phường Phú Khương, thị xã Bến Tre. Vì cầu do dân góp tiền xây, giúp một bà mụ vườn tiện qua lại khi đi hộ sản nên mang tên trên [18].

2.1.2.Bà cũng chỉ những người đàn bà của các dân tộc anh em.

Bà Đen là núi ở phía tây tỉnh Ninh Thuận, là tên dịch địa danh gốc Chăm Chơk Juk “núi đen” – tên bà mẹ xứ sở, có vương hiệu là Po Inư Nagar [16].

Bà Đen cũng là tên núi gần thị xã Tây Ninh, cao 986m, cách thị xã 15km, một điểm du lịch nổi tiếng. Cũng gọi tắt là núi Bà. Có 5 giả thuyết để lý giải: 1. Nàng Đênh quyết chí đi tu ở núi; cha mẹ ép duyên; nàng trốn biệt tích; tên núi Bà Đênh nói chệch thành Bà Đen [7]. 2. Cô Lý Thị Thiên Hương yêu và định lấy một trí thức tên Lê Sĩ Triệt, nhưng bị tên công tử bắt cóc; nàng tuẫn tiết; vua phong cho nàng là Linh Sơn Thánh mẫu [3]. 3. Nàng Rê Đeng cùng chàng trai đắp núi thi; cuối cùng nàng thắng, núi nàng đắp trở thành núi Bà Đen; 4. Nữ Oa và Tứ Tượng thi đắp núi; nếu Tứ Tượng thắng thì thành vợ chồng; cuối cùng nàng thắng; núi nàng đắp trở thành núi Bà Đen. 5. Có một nữ thần được người Khmer thờ, gọi là “Mẹ Đen” (Néang Khmau), và hòn núi là bàn chân của bà nên trước đây thường gọi là Phnom Chơn Bà Đen ; hiện trên núi còn dấu chân này [20]. Chúng tôi vừa đến thăm núi và thấy dấu chân này khắc trên đá, lớn hơn dấu chân người một chút [4]. Thuyết thứ 5 có lý nhất.

Bà Tó là hóc (rạch nhỏ) ở xã Khánh Tiến, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Bà Tó có lẽ là một người Khmer. Vì ngày xưa hóc (= hói) ở giữa rừng vắng, xa xôi nên từ tổ hóc Bà Tó chỉ nơi xa xôi, vắng vẻ [4].

2.1.3.Bà cũng dùng để chỉ một nữ thần nào đó. Hòn Bà ở huyện Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà, cao 1.356m và hòn Bà ở giữa hai huyện Diên Khánh và Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hoà, cao 1.285m - còn gọi là Bích Sơn (“núi vách”) – là hai thí dụ. Bà ở đây chính là Thiên Y A Na [13].

Bà Rén là tên cầu trên quốc lộ 1A, bắc qua sông Bà Rén, thuộc xã Duy An, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, dài 250,5m. Bà Rén bắt nguồn từ Bà Rắn vì nơi đây, người ta đã đào được một tượng nữ thần có hình con rắn Naga nhiều đầu và nói chệch theo ngữ âm địa phương [19].

2.1.4.Bà kết hợp với một từ gốc Pháp đồng nghĩa dame thành bà đầm. Bà Đầm là con kinh nối liền Rạch Giá với thành phố Cần Thơ ra sông Hậu, dài 14km, đào năm 1894 – 1895. Cũng gọi kinh Ô Môn. Sở dĩ gọi là kinh Bà Đầm vì lúc đào kinh, các đốc công Pháp đem theo gia đình sống trên một cái nhà bè, chiều chiều một bà đầm thường ra đứng xem công nhân làm việc [12, 412].

2.2.Bên cạnh đó, một số địa danh có thành tố Bà là biến âm của âm tiết hoặc âm tố khác.

2.2.1. Trước hết là nhóm địa danh Bà Bèo, Bà Hói, Bà Môn.

Bà Bèo là kinh nối sông Tiền và sông Vàm Cỏ, chảy qua các huyện Cai Lậy, Tân Phước (Tiền Giang) và Châu Thành (Long An), dài 25km. Vương Hồng Sển cho biết âm gốc của địa danh này là Bàu Bèo. Người Khmer cũng gọi kinh Bà Bèo là Cumnik Prêk Cak “kinh rạch bèo” [20]. Bà Hói là rạch ở xã Long Thới, huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh. Trên bản đồ thời Pháp thuộc ghi rạch này là Bàu Hói “rạch ở giữa có chỗ phình rộng”. Bà Môn là rạch ở thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh, tp.HCM. Nguyễn Văn Trấn [14], người địa phương, cho biết âm gốc của địa danh này là Bàu Môn, tức “cái bàu có trồng môn nước”.

Dạng gốc của ba địa danh này (Bàu Bèo, Bàu Hói, Bàu Môn) đều là hai âm tiết có vần tròn môi cho nên khó phát âm. Vì vậy, chúng cần dị hoá cho dễ phát âm. Từ đó, chúng tôi nghĩ rằng dạng gốc của các địa danh Bà Hom, Bà Quẹo (tp.HCM) có thể là Bàu Hom (bàu ngâm hom tre), Bàu Quẹo (bàu nằm ở chỗ quẹo của đường Trường Chinh). Ở xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh có cống Quẹo, ở xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ ( tp. HCM) có vùng Lộ Quẹo.

2.2.2. Kế đến là các âm tiết vốn không phải Bà biến thành Bà.

Bà Băng là rạch ở xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè, tp. HCM. Bà Băng là địa danh thuần Việt, có âm gốc là Bờ Băng vì tại đây có con đường bờ băng qua cánh đồng của xã nên có tên trên. Cho nên hiện nay, có người còn gọi là Bờ Băng, một số khác gọi Bà Băng [5].

Bà Kè là rạch ở huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Bà Kè vốn là Bờ Kè bị nói chệch [11].

Bà Nà là núi ở huyện Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam, cao 1.487m. Tại đây có khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà – núi Chúa, diện tích 43.327ha, là nơi du lịch, nghỉ mát và an dưỡng.

Có người cho rằng do Po Na(gar) mà ra [9]. Tác giả không giải thích tại sao mất âm tiết gar. Chúng tôi nghĩ rằng Bà Nà có lẽ đã bắt nguồn từ tên của dân tộc Ba Na, vì các lý do sau: 1.Dân tộc Ba Na có cư trú ở vùng núi tỉnh Quảng Nam [1]; 2. Bà Nà cũng gọi là Bà Na hay Ba Na [2;8]; 3. Ngôn ngữ Ba Na cũng gọi là Bà Nà [10]; 4. Hai thanh ngang và huyền có quan hệ chuyển đổi: (bao) nhiêu – nhiều, (ngày) nao – nào, (nhà) ngươi – người,…; 5. Nhiều địa danh bắt nguồn từ tên dân tộc, như: (cao nguyên) Mạ, tỉnh Gia Lai, Lào, Bulgaria, Moldova, Paris (thủ đô của Pháp),…Như vậy, Ba chuyển thành Bà là hoàn toàn hợp lý.

Bà Om là ao thuộc xã Nguyệt Hoá, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Có 4 truyền thuyết để lý giải nguồn gốc của địa danh này: 1. Bà Om là người Khmer, đứng đầu đội nữ đào ao sâu hơn đội nam. 2. Bà Om là một trong bốn nữ tì canh gác cho hoàng tử tắm trong ao nên ao mang tên bà. 3. Ao mang tên chùa Prah Âng nên bị nói chệch thành Bà Om. 4. Bên ao có loại rau mà ơm (một thứ rau thơm) nên bị nói chệch thành Bà Om [7].Thuyết thứ tư có lý nhất vì có cơ sở thực tế và ngôn ngữ Mà à Bà (hai phụ âm môi – môi M – B chuyển hoá với nhau).

Bà Rịa là thị xã của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, diện tích 90,6km2, dân số 78.800 người (2006), gồm 7 phường và 2 xã. Có hai cách lý giải: 1. Một bà tên Rịa có công với vùng này trong thế kỷ 19 nên tên bà được đặt cho địa phương. 2.Do phiên âm tên một nữ thần của người Chăm Po Riyak (thần trấn sóng) [15].Thuyết một thiếu tư liệu lịch sử nên không có cơ sở khoa học và địa danh này đã có từ trước thế kỷ 19 (Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức khắc in khoảng năm 1820 đã nói tới). Thuyết hai có lý hơn vì có cơ sở ngữ âm và lịch sử. Từ địa danh Bà Rịa sinh ra hai địa danh Bà Biên và Bà Chợ.

Bà Biên là tỉnh ở miền Đông Nam Bộ trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 12 – 1963. Bà Biên do ghép tên hai tỉnh Ba Rịa và Biên Hòa.

Bà Chợ là tỉnh ở miền Đông Nam Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) do phía Cách mạng đặt. Ban đầu gọi là tỉnh Bà Rịa – Chợ Lớn (từ ngày 27 – 6 – 1951), sau đó đổi thành Bà Chợ. Bà Chợ do ghép tên hai tỉnh Bà Rịa và Chợ Lớn [4].

2.2.3. Một số địa danh khác vốn không mang từ Bà nhưng khi Việt hoá biến thành Bà. Đó là các địa danh Bà Lý, Bà Nay.

Bà Lý là tên núi ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, một trong ba ngọn của núi Tà Pang, cao 30m. Bà Lý bắt nguồn từ tên gốc Khmer Pang Li: Pang nghĩa là “măng tre”; Li (Hán Việt) tức là “luỹ”. Pang đọc chệch thành Bàn, rồi thành Bà; Li đọc chệch thành Lý [20]. Thuyết này chưa thuyết phục lắm.

Bà Nay là núi ở ấp Việt Nam, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, cao 117m. Bà Nay gốc Khmer và Thái Pù Nạy, nghĩa là “núi lớn”, nói rút thành P’nay, người Việt đọc thành Bà Nay [20,26]. Kiên Giang không phải địa bàn người Thái sinh sống và trong tiếng Thái từ lớn là láo, chứ không phải nạy nên giả thuyết chưa thuyết phục [4].

2.2.4. Sau cùng là âm tố được âm tiết hoá. Bà Rá là núi ở huyện Phước Long, thuộc tỉnh Bình Phước, cao 726m. Năm 1963, đổi thành Phước Sơn, nhưng tên này không phổ biến. Bà Rá gốc S’tiêng Brah, nghĩa là “thần linh” [6]. B- đã được âm tiết hoá thành Bà; -Rah biến âm thành Rá*.

2.3. Người Việt đã dịch ý một số địa danh gốc Khmer và gốc Chăm thành Bà và giữ âm gốc của địa danh. Bà Kè là sông ở tỉnh Vĩnh Long. Bà Kè gốc Khmer Prêk Năk Yây Kè, nghĩa là “rạch đức bà Kè” [21].

Bà Kéc là núi ở tỉnh Đồng Nai. Tên dịch Hán Việt là Thần Mẫu phong. Bà Kéc gốc Khmer Phnom Sèk, nghĩa là “núi con kéc” [21]. Bà Ký là rạch ở tỉnh Đồng Nai. Bà Ký gốc Khmer Kompong Koki, là “bến cây sao đen”, bị nói chệch thành Bà Ký [21].

Bà Râu là xứ xưa ở tỉnh Ninh Thuận. Bà Râu gốc Chăm Po Inư Nưgar Mư Rau, nhưng chưa biết nghĩa [17].

3.Qua hơn hai mươi địa danh mang thành tố Bà ở trước, chúng ta thấy nguồn gốc và ý nghĩa của các địa danh này khá phức tạp, chứ không đơn giản. Vì vậy, công việc nghiên cứu này phải còn tiếp tục lâu dài và cần sự tham gia của nhiều người. Bài báo này xem như bức phác thảo đầu tiên nên chắc chắn còn nhiều ý kiến tán thành hoặc không. Chúng tôi hi vọng sẽ được đọc những ý kiến của các thức giả khác.


1.Trong địa danh Việt Nam có hằng trăm tên đất mang thành tố chung Bà ở trước. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ khảo sát một số địa danh tiêu biểu cho mỗi loại. Ở mỗi địa danh, chúng tôi tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa căn cứ vào các tài liệu đã được công bố.

2.1.Trước hết là địa danh mang từ Bà với nghĩa phổ biến nhất. Đây là từ gốc Hán Việt chỉ người phụ nữ đã có con và đã được Việt hoá từ xa xưa nên có thể xem như là một từ thuần Việt.

2.1.1.Bà Tư là tên một cồn cát ở xã Thới Thuận, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Ban đầu mang tên cồn Trẹt. Bà Tư là bà Võ Thị Phò, thường gọi Tư Phò, vì đầu thế kỷ 20, bà đến lập nghiệp nơi đây. Bà kiên trì bám trụ, ủng hộ kháng chiến, có chồng và hai con là liệt sĩ, được phong danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng [18].

Bà Đồ là xóm thuộc vùng Bình Thuỷ xưa, nay thuộc xã Long Tuyền, cách thành phố Cần Thơ 5km về phía Long Xuyên. Đây là nơi các văn nhân tụ hội xướng hoạ. Bà Đồ có chồng dạy học. Chồng qua đời, bà tiếp tục dạy nên dân làng gọi là xóm Bà Đồ [7, 110].

Bà Mụ là cầu nằm trên đường Nguyễn Huệ, thuộc phường Phú Khương, thị xã Bến Tre. Vì cầu do dân góp tiền xây, giúp một bà mụ vườn tiện qua lại khi đi hộ sản nên mang tên trên [18].

2.1.2.Bà cũng chỉ những người đàn bà của các dân tộc anh em.

Bà Đen là núi ở phía tây tỉnh Ninh Thuận, là tên dịch địa danh gốc Chăm Chơk Juk “núi đen” – tên bà mẹ xứ sở, có vương hiệu là Po Inư Nagar [16].

Bà Đen cũng là tên núi gần thị xã Tây Ninh, cao 986m, cách thị xã 15km, một điểm du lịch nổi tiếng. Cũng gọi tắt là núi Bà. Có 5 giả thuyết để lý giải: 1. Nàng Đênh quyết chí đi tu ở núi; cha mẹ ép duyên; nàng trốn biệt tích; tên núi Bà Đênh nói chệch thành Bà Đen [7]. 2. Cô Lý Thị Thiên Hương yêu và định lấy một trí thức tên Lê Sĩ Triệt, nhưng bị tên công tử bắt cóc; nàng tuẫn tiết; vua phong cho nàng là Linh Sơn Thánh mẫu [3]. 3. Nàng Rê Đeng cùng chàng trai đắp núi thi; cuối cùng nàng thắng, núi nàng đắp trở thành núi Bà Đen; 4. Nữ Oa và Tứ Tượng thi đắp núi; nếu Tứ Tượng thắng thì thành vợ chồng; cuối cùng nàng thắng; núi nàng đắp trở thành núi Bà Đen. 5. Có một nữ thần được người Khmer thờ, gọi là “Mẹ Đen” (Néang Khmau), và hòn núi là bàn chân của bà nên trước đây thường gọi là Phnom Chơn Bà Đen ; hiện trên núi còn dấu chân này [20]. Chúng tôi vừa đến thăm núi và thấy dấu chân này khắc trên đá, lớn hơn dấu chân người một chút [4]. Thuyết thứ 5 có lý nhất.

Bà Tó là hóc (rạch nhỏ) ở xã Khánh Tiến, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Bà Tó có lẽ là một người Khmer. Vì ngày xưa hóc (= hói) ở giữa rừng vắng, xa xôi nên từ tổ hóc Bà Tó chỉ nơi xa xôi, vắng vẻ [4].

2.1.3.Bà cũng dùng để chỉ một nữ thần nào đó. Hòn Bà ở huyện Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà, cao 1.356m và hòn Bà ở giữa hai huyện Diên Khánh và Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hoà, cao 1.285m - còn gọi là Bích Sơn (“núi vách”) – là hai thí dụ. Bà ở đây chính là Thiên Y A Na [13].

Bà Rén là tên cầu trên quốc lộ 1A, bắc qua sông Bà Rén, thuộc xã Duy An, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, dài 250,5m. Bà Rén bắt nguồn từ Bà Rắn vì nơi đây, người ta đã đào được một tượng nữ thần có hình con rắn Naga nhiều đầu và nói chệch theo ngữ âm địa phương [19].

2.1.4.Bà kết hợp với một từ gốc Pháp đồng nghĩa dame thành bà đầm. Bà Đầm là con kinh nối liền Rạch Giá với thành phố Cần Thơ ra sông Hậu, dài 14km, đào năm 1894 – 1895. Cũng gọi kinh Ô Môn. Sở dĩ gọi là kinh Bà Đầm vì lúc đào kinh, các đốc công Pháp đem theo gia đình sống trên một cái nhà bè, chiều chiều một bà đầm thường ra đứng xem công nhân làm việc [12, 412].

2.2.Bên cạnh đó, một số địa danh có thành tố Bà là biến âm của âm tiết hoặc âm tố khác.

2.2.1. Trước hết là nhóm địa danh Bà Bèo, Bà Hói, Bà Môn.

Bà Bèo là kinh nối sông Tiền và sông Vàm Cỏ, chảy qua các huyện Cai Lậy, Tân Phước (Tiền Giang) và Châu Thành (Long An), dài 25km. Vương Hồng Sển cho biết âm gốc của địa danh này là Bàu Bèo. Người Khmer cũng gọi kinh Bà Bèo là Cumnik Prêk Cak “kinh rạch bèo” [20]. Bà Hói là rạch ở xã Long Thới, huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh. Trên bản đồ thời Pháp thuộc ghi rạch này là Bàu Hói “rạch ở giữa có chỗ phình rộng”. Bà Môn là rạch ở thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh, tp.HCM. Nguyễn Văn Trấn [14], người địa phương, cho biết âm gốc của địa danh này là Bàu Môn, tức “cái bàu có trồng môn nước”.

Dạng gốc của ba địa danh này (Bàu Bèo, Bàu Hói, Bàu Môn) đều là hai âm tiết có vần tròn môi cho nên khó phát âm. Vì vậy, chúng cần dị hoá cho dễ phát âm. Từ đó, chúng tôi nghĩ rằng dạng gốc của các địa danh Bà Hom, Bà Quẹo (tp.HCM) có thể là Bàu Hom (bàu ngâm hom tre), Bàu Quẹo (bàu nằm ở chỗ quẹo của đường Trường Chinh). Ở xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh có cống Quẹo, ở xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ ( tp. HCM) có vùng Lộ Quẹo.

2.2.2. Kế đến là các âm tiết vốn không phải Bà biến thành Bà.

Bà Băng là rạch ở xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè, tp. HCM. Bà Băng là địa danh thuần Việt, có âm gốc là Bờ Băng vì tại đây có con đường bờ băng qua cánh đồng của xã nên có tên trên. Cho nên hiện nay, có người còn gọi là Bờ Băng, một số khác gọi Bà Băng [5].

Bà Kè là rạch ở huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Bà Kè vốn là Bờ Kè bị nói chệch [11].

Bà Nà là núi ở huyện Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam, cao 1.487m. Tại đây có khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà – núi Chúa, diện tích 43.327ha, là nơi du lịch, nghỉ mát và an dưỡng.

Có người cho rằng do Po Na(gar) mà ra [9]. Tác giả không giải thích tại sao mất âm tiết gar. Chúng tôi nghĩ rằng Bà Nà có lẽ đã bắt nguồn từ tên của dân tộc Ba Na, vì các lý do sau: 1.Dân tộc Ba Na có cư trú ở vùng núi tỉnh Quảng Nam [1]; 2. Bà Nà cũng gọi là Bà Na hay Ba Na [2;8]; 3. Ngôn ngữ Ba Na cũng gọi là Bà Nà [10]; 4. Hai thanh ngang và huyền có quan hệ chuyển đổi: (bao) nhiêu – nhiều, (ngày) nao – nào, (nhà) ngươi – người,…; 5. Nhiều địa danh bắt nguồn từ tên dân tộc, như: (cao nguyên) Mạ, tỉnh Gia Lai, Lào, Bulgaria, Moldova, Paris (thủ đô của Pháp),…Như vậy, Ba chuyển thành Bà là hoàn toàn hợp lý.

Bà Om là ao thuộc xã Nguyệt Hoá, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Có 4 truyền thuyết để lý giải nguồn gốc của địa danh này: 1. Bà Om là người Khmer, đứng đầu đội nữ đào ao sâu hơn đội nam. 2. Bà Om là một trong bốn nữ tì canh gác cho hoàng tử tắm trong ao nên ao mang tên bà. 3. Ao mang tên chùa Prah Âng nên bị nói chệch thành Bà Om. 4. Bên ao có loại rau mà ơm (một thứ rau thơm) nên bị nói chệch thành Bà Om [7].Thuyết thứ tư có lý nhất vì có cơ sở thực tế và ngôn ngữ Mà à Bà (hai phụ âm môi – môi M – B chuyển hoá với nhau).

Bà Rịa là thị xã của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, diện tích 90,6km2, dân số 78.800 người (2006), gồm 7 phường và 2 xã. Có hai cách lý giải: 1. Một bà tên Rịa có công với vùng này trong thế kỷ 19 nên tên bà được đặt cho địa phương. 2.Do phiên âm tên một nữ thần của người Chăm Po Riyak (thần trấn sóng) [15].Thuyết một thiếu tư liệu lịch sử nên không có cơ sở khoa học và địa danh này đã có từ trước thế kỷ 19 (Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức khắc in khoảng năm 1820 đã nói tới). Thuyết hai có lý hơn vì có cơ sở ngữ âm và lịch sử. Từ địa danh Bà Rịa sinh ra hai địa danh Bà Biên và Bà Chợ.

Bà Biên là tỉnh ở miền Đông Nam Bộ trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 12 – 1963. Bà Biên do ghép tên hai tỉnh Ba Rịa và Biên Hòa.

Bà Chợ là tỉnh ở miền Đông Nam Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) do phía Cách mạng đặt. Ban đầu gọi là tỉnh Bà Rịa – Chợ Lớn (từ ngày 27 – 6 – 1951), sau đó đổi thành Bà Chợ. Bà Chợ do ghép tên hai tỉnh Bà Rịa và Chợ Lớn [4].

2.2.3. Một số địa danh khác vốn không mang từ Bà nhưng khi Việt hoá biến thành Bà. Đó là các địa danh Bà Lý, Bà Nay.

Bà Lý là tên núi ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, một trong ba ngọn của núi Tà Pang, cao 30m. Bà Lý bắt nguồn từ tên gốc Khmer Pang Li: Pang nghĩa là “măng tre”; Li (Hán Việt) tức là “luỹ”. Pang đọc chệch thành Bàn, rồi thành Bà; Li đọc chệch thành Lý [20]. Thuyết này chưa thuyết phục lắm.

Bà Nay là núi ở ấp Việt Nam, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, cao 117m. Bà Nay gốc Khmer và Thái Pù Nạy, nghĩa là “núi lớn”, nói rút thành P’nay, người Việt đọc thành Bà Nay [20,26]. Kiên Giang không phải địa bàn người Thái sinh sống và trong tiếng Thái từ lớn là láo, chứ không phải nạy nên giả thuyết chưa thuyết phục [4].

2.2.4. Sau cùng là âm tố được âm tiết hoá. Bà Rá là núi ở huyện Phước Long, thuộc tỉnh Bình Phước, cao 726m. Năm 1963, đổi thành Phước Sơn, nhưng tên này không phổ biến. Bà Rá gốc S’tiêng Brah, nghĩa là “thần linh” [6]. B- đã được âm tiết hoá thành Bà; -Rah biến âm thành Rá*.

2.3. Người Việt đã dịch ý một số địa danh gốc Khmer và gốc Chăm thành Bà và giữ âm gốc của địa danh. Bà Kè là sông ở tỉnh Vĩnh Long. Bà Kè gốc Khmer Prêk Năk Yây Kè, nghĩa là “rạch đức bà Kè” [21].

Bà Kéc là núi ở tỉnh Đồng Nai. Tên dịch Hán Việt là Thần Mẫu phong. Bà Kéc gốc Khmer Phnom Sèk, nghĩa là “núi con kéc” [21]. Bà Ký là rạch ở tỉnh Đồng Nai. Bà Ký gốc Khmer Kompong Koki, là “bến cây sao đen”, bị nói chệch thành Bà Ký [21].

Bà Râu là xứ xưa ở tỉnh Ninh Thuận. Bà Râu gốc Chăm Po Inư Nưgar Mư Rau, nhưng chưa biết nghĩa [17].

3.Qua hơn hai mươi địa danh mang thành tố Bà ở trước, chúng ta thấy nguồn gốc và ý nghĩa của các địa danh này khá phức tạp, chứ không đơn giản. Vì vậy, công việc nghiên cứu này phải còn tiếp tục lâu dài và cần sự tham gia của nhiều người. Bài báo này xem như bức phác thảo đầu tiên nên chắc chắn còn nhiều ý kiến tán thành hoặc không. Chúng tôi hi vọng sẽ được đọc những ý kiến của các thức giả khác.

ST
Hình đại diện của thành viên
vu thi chinh
Lớp 2
Lớp 2
 
Bài viết: 97
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 4 05, 2012 4:21 am
Đến từ: K4

Re: Địa danh Việt Nam có thành tố "Bến"

Gửi bàigửi bởi vu thi chinh » Thứ 7 Tháng 5 12, 2012 5:05 am

Địa danh Việt Nam có thành tố "Bến"


1.Theo số liệu sưu tập chưa thật đầy đủ của chúng tôi, trong địa danh Việt Nam có ít nhất 40 đơn vị có thành tố Bến ở trước. Bến là chỗ bờ sông, thường có bậc lên xuống để lấy nước, tắm giặt. Bến còn là nơi quy định cho tàu thuyền, xe cộ dừng lại để hành khách lên xuống, xếp dỡ hàng hoá.

2. Thành tố đứng sau có thể chia thành nhiều nhóm, như tên người, tên cây, tên công trình xây dựng,…

2.1. Thành tố sau chỉ tính chất, chúng tôi mới tìm được một địa danh.

Bến En là vườn quốc gia bảo tồn rừng ở huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hoá, diện tích 16.634ha. Bến En là “bến lạnh”. Tiếng Việt có thành ngữ:“Run en phát rét”.

2.2. Thành tố thứ hai là một yếu tố ghép.

Bến Thủ là huyện cũ của tỉnh Long An, được lập ngày 11 – 3 – 1977 do nhập hai huyện Bến Lức và Thủ Thừa; đến ngày 14 – 1 – 1983 lại tách thành hai huyện như cũ. Bến Thủ là tên ghép chữ đầu của hai huyện [5].

2.3. Thành tố sau chỉ tên các con vật có mặt trong hai địa danh.

Bến Trâu là rạch ở phường 14, quận Sáu, tp. HCM, dài 1.400m. Tại rạch này có một bến nước trước đây người địa phương thường thả trâu xuống tắm.

Bến Nghé là tên một khúc sông Sài Gòn chảy qua tp. HCM. Bến Nghé là nơi trâu thường ngâm mình ở đây.

2.4. Yếu tố đứng sau có thể là tên các địa hình nơi ấy.

Bến Đầm là khu công nghiệp và dịch vụ cảng ở huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bến Đầm là “bến tại đầm nước”.

Bến Ghềnh là cầu trên quốc lộ 21, tỉnh Khánh Hoà, dài 167,8m. Bến Ghềnh vì tại bến này có một cái ghềnh.

Bến Hải là tên sông chảy giữa hai huyện Gio Linh và Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, dài 65km, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, chảy ra biển Đông tại cửa Tùng. Bến Hải cũng là tên huyện cũ của tỉnh Quảng Trị, do nhập ba huyện Cam Lộ, Gio Linh và Vĩnh Linh ngày 11 – 3 – 1977, đến các năm 1990 – 1991, lại tách ra thành ba huyện như cũ. Bến Hải nửa thuần Việt nửa Hán Việt, nghĩa là “bến ở gần biển”. Âm gốc là Bến Hói (bến ở gần hói nước) [6]. Thuyết này có lý vì để ghi chữ Hói, người ta phải mượn âm chữ Hải [5].

2.5. Tiếp theo, thành tố sau có thể là tên các công trình xây dựng ở gần đối tượng.

Bến Cầu là huyện của tỉnh Tây Ninh, diện tích 233,3 km2, dân số 59.000 người (2006), gồm một thị trấn và 8 xã. Tên huyện ra đời năm 1961. Bến Cầu là “bến nằm cạnh cái cầu”.

Bến Dựa là địa điểm ở làng Bình Thuyên, tỉnh Định Tường, nay là tỉnh Tiền Giang. Bến Dựa vốn là Bến Vựa, vì tại bến này có vựa chứa hàng trước khi chuyển vào chợ Thuộc Nhiêu [5].

Bến Đình là địa điểm đậu thuyền ở tp. Vũng Tàu. Sau vì khi thuỷ triều xuống, ghe thuyền không vào được nên bỏ. Bến Đình, vì “bến ở gần đình làng Thắng Nhì”, Vũng Tàu. Bến Đình cũng là vùng đất ở xã Lý Nhơn, huyện Cần Giờ, tp. HCM. Bến Đình là bến sông Soài Rạp, gần bến có một ngôi đình thờ ông Dương Văn Hạnh, một phó xã ở làng Lý Nhơn, kiên quyết không chỉ nơi ẩn núp của Trương Định nên bị Pháp chém đầu. Trong đình còn hai câu đối:

Kim trung báo chủ tâm hà cải;

Bỉnh tiết thù dân chí bất suy.

(Kiên trung báo chủ lòng không đổi;

Khí tiết vì dân chí chẳng suy).

Bến Kho là địa điểm ở khu Đồng Quan, làng Hoà Thuận, nay thuộc xã Long Khánh, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Bến Kho vì dưới thời Thiệu Trị, Tự Đức, ông Trâu Văn Điền, nhờ thế lực của người cô, được chọn làm quản lý khu Đồng Quan, làm kho chứa lúa tại đây trước khi nộp cho triều đình [11].

Bến Thành là chợ ở quận 1, tp. HCM. Trước kia gọi là chợ Bến Nghé, vì vào đầu tk. 19, chợ nằm sát bến Bạch Đằng nay. Cuối tk. 19, chợ được dời đến trên bờ kinh Lấp (đường Nguyễn Huệ nay). Năm 1870, chợ bị cháy. Năm 1911, chợ dời về vị trí hiện nay, đến tháng 3 – 1914 thì khánh thành. Bến Thành vì ban đầu chợ nằm gần bến Nghé và thành Gia Định [4].

2.6. Yếu tố sau có thể là tên người hoặc thần thánh.

Bến Dược là vùng đất ở xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi, tp. HCM, rộng 200ha. Trong những năm kháng chiến chống Pháp và Mỹ, dân địa phương đã đào nhiều đường hầm dưới lòng đất (địa đạo) dài hàng trăm cây số để đánh địch. Bến Dược do bến Bà Dược (tại đây có xóm Bà Dược) rút gọn mà thành [4].

Bến Giằng là thị trấn của huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam. Bến Giằng có lẽ nói tắt của bến Giằng Xay. Giằng xay là tên một loại cây, dùng làm thuốc dân tộc. Hoặc Giằng là biến âm của Giàng, tiếng dân tộc, nghĩa là “thần”, vì nơi đây có sông Giàng, huyện Giàng [5].

Bến Hiên vừa là bãi bồi vừa là thị trấn thuộc huyện Hiên, tỉnh Quảng Nam. Bến Hiên là dạng rút gọn của bến Ông Hiên, người đầu tiên đến đây khai phá, dựng nhà, là nơi gửi hàng hoá của người Kinh để trao đổi với đồng bào Cơ Tu [9].

Bến Ma là cầu bắc qua sông Vũng Bầu, ở tp. Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà. Bến Ma là nơi tương truyền trước đây có nhiều ma [10].

Bến Quân là hồ ở xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Bến Quân, vì nơi đây quân Tây Sơn từng đóng trại khi ra Bắc đánh quân Thanh [2…, 688].

2.7. Thành tố sau chỉ những hoạt động của con người.

Bến Bối là rạch ở quận Bình Thạnh, tp. HCM, dài độ 700m. Bối là “ăn trộm trên sông”. Có lẽ tại bến này trước kia có nhiều kẻ trộm trên sông.

Bến Đổi là địa điểm nay thuộc xã Cẩm Giàng, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Cũng gọi Trường Đổi. Bến Đổi là “nơi trao đổi hàng hoá giữa người Việt và người Chăm” lúc quân Pháp mới xâm chiếm vùng này [3, 83 – 84].

Bến Kéo la địa điểm thuộc xã Long Thành, tỉnh Tây Ninh, trên quốc lộ 22, cách tỉnh lỵ 8km. Vì trước kia đường sá khó đi nên hàng hoá từ Sài Gòn chở đến đây phải tập trung lại để thuê xe bò chở tiếp. Bến Kéo là “bến tập trung xe để kéo hàng” [3, 66].

Bến Lội là cầu trên quốc lộ 1A, bắc qua suối Chai và suối Sâu, ở tp. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, dài 37,8m, mới xây trước năm 1975. Bến Lội còn là địa điểm nằm sát bờ biển, thuộc xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vì nơi đây nước cạn, có thể lội qua suối dễ dàng [7;8].

Bến Ngự là vùng đất thuộc các phường Phước Vĩnh, Vĩnh Ninh, Trường An, tp. Huế. Nơi đây, Cụ Phan Bội Châu, một nhà ái quốc, bị thực dân Pháp giam lỏng trong thời gian 1925 – 1940. Bến Ngự là nơi các vua nhà Nguyễn tiến hành lễ tế Giao.

Bến Rớ là ngã ba nơi gặp nhau của sông Ba Tri cá trại và rạch Bần Quỳ, thuộc xã Châu Hoà, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Bến Rớ, vì nơi đây ngư dân có dựng một số rớ giàn để đánh bắt tôm cá.

Bến Thuỷ là cảng bên bờ sông Lam, nằm cách tp. Vinh, tỉnh Nghệ An 5km về hướng đông nam. Bến Thuỷ có nghĩa là “bến đóng tàu thuỷ” nói gọn lại.

2.8. Một số yếu tố vốn là sự vật, đặc sản hoặc đặc điểm của nơi đó.

Bến Cát là huyện của tỉnh Bình Dương, mới tách ra từ huyện Bến Cát cũ năm 1999, diện tích 588,4km2, dân số104.900 người (2006), gồm thị trấn Mỹ Phước và 14 xã. Bến Cát là “bến có nhiều cát”.

Bến Dầu là chơ ở xã Đại Thạnh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Bến Dầu là “bến chuyên bán dầu rái” [9].

Bến Đá là đèo ở chỗ giáp giới hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định, gần Tam Quan. Tên chữ là Thạch Tân. Bến Đá là “bến có nhiều đá” [5].

Bến Gỗ là địa điểm ở xã Hoà Hưng, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, có một di chỉ khảo cổ học thuộc văn hoá Chăm. Bến Gỗ là “bến tập trung gỗ khai thác ở miền Đông để chở bằng thuyền về miền Tây tiêu thụ”.

Bến Phân là cầu nằm trên đường Thống Nhất, quận Gò Vấp, tp. HCM, dài 84,2m, rộng 7m. Bến Phân ngày xưa là bến bán phân tằm để bón cho trầu và thuốc lá nên có tên trên [4].

Bến Súc là địa điểm bên quốc lộ 51, thuộc thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bến Súc xưa kia là nơi tập trung gỗ rừng để chở về miền Tây Nam Bộ tiêu thụ [8].

Bến Súc còn là cảng ở trên sông Sài Gòn, tại chỗ giáp giới của hai tỉnh Bình Dương và Tây Ninh. Bến Súc chỉ “bến chứa những khúc gỗ lớn”.

Bến Ván là sông chảy qua An Tân và đầm An Thái, tỉnh Quảng Nam, dài độ 6km. Tên chữ Hán là Bản Tân. Bến Ván cũng là cầu xe lửa bắc qua sông Bến Ván, tỉnh Quảng Nam, dài 1.640m [1]. Bến Ván là “bến chứa nhiều ván”.

Bến Kiền là cảng trên sông Cấm, tp. Hải Phòng. Tại đây có khu công nghiệp đóng tàu đánh bắt cá lớn. Bến Kiền có lẽ là “bến có nhiều khúc gỗ cây kiền kiền” [5].

2.9. Sau cùng, thành tố sau là tên các loại cây cối ở địa điểm đó.

Bến Lức là tên sông nhánh của sông Vàm Cỏ Đông, dài 19km, chảy trên địa bàn huyện Bến Lức, tỉnh Long An và huyện Bình Chánh, tp. HCM. Bến Lức cũng là tên huyện của tỉnh Long An, diện tích 289,3km2, dân số 126.100 người (2006), gồm một thị trấn và 14 xã. Bến Lức còn là tên hai chiếc cầu trên quốc lộ 1A, bắc qua sông Vàm Cỏ Đông, chiếc cũ dài 549m, chiếc mới dài 400m, rộng 12m. Bến Lức vừa gốc thuần Việt vừa gốc Khmer, là “bến có nhiều cây lứt”. Lứt (lức) gốc Khmer Rolưk [12], là một loại cỏ lá nhỏ, mọc theo bờ nước, rễ là vị thuốc sài hồ. Tên dịch ra từ Hán Việt của Bến Lức là Lật Giang [4].

Bến Tắt là địa điểm trên sông Bến Hải, thuộc huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Bến Tắt cũng là tên cầu bắc qua sông Bến Hải, trên đường Hồ Chí Minh, do Cu Ba xây dựng năm 1973, dài 150m, rộng 6m, được công nhận là di tích quốc gia năm 1986, bị lũ cuốn trôi năm 1985, được trục vớt tháng 12 – 2006. Bến Tắt là “bến có mọc nhiều mây tắt” [1].

Bến Tre là tỉnh ở Nam Bộ, diện tích 2.310km2, dân số 1,299 triệu người (2006), gồm 1 thị xã và 7 huyện. Tỉnh được thành lập ngày 1 – 1 - 1900. Tên dịch sang chữ Hán lá Trúc Giang (dịch không sát). Có hai cách lý giải: 1. Bến Tre là “bến có nhiều cây tre mọc”. Người Khmer cũng gọi tương tự Prêk Rưsei “rạch Tre” [12]. 2. Dạng gốc là Srok Kompon Trey/Treay “xứ bến cá” [13]. Tại Bến Tre, người ta không thấy có nhiều tre, nên thuyết 2 có lý hơn.

Bến Lạc là đảo nhỏ ở phía bắc quần đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hoà. Bến Lạc vì bến ở vị trí tách ra khỏi quần đảo như bị lạc giữa biển khơi.

3. Hầu hết các địa danh trong bài này đều là từ thuần Việt. Chúng phản ảnh những con người, địa hình, cảnh vật, động vật… nơi chúng chào đời. Vì vậy, chúng như những bức tranh giúp chúng ta hiểu rõ hơn đất nước, lịch sử, văn hoá dân tộc.


Lê Trung Hoa

ST

Hình đại diện của thành viên
vu thi chinh
Lớp 2
Lớp 2
 
Bài viết: 97
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 4 05, 2012 4:21 am
Đến từ: K4

Địa danh Việt Nam có thành tố Cầu

Gửi bàigửi bởi vu thi chinh » Thứ 7 Tháng 5 12, 2012 5:16 am

1.Trong địa danh Việt Nam, có hàng trăm đơn vị mang thành tố chung Cầu ở trước. Những địa danh này đã chuyển từ tên cầu sang tên những đối tượng khác, như rạch, xóm, kinh, ấp,… Điều này cho thấy các chiếc cầu có quan hệ thiết thân đến cuộc sống của con người.

2. Yếu tố sau có thể là tên các đơn vị hành chính, tên người, cây cỏ, cầm thú,…

2.1. Trước hết, yếu tố sau là tên các đơn vị hành chính.

Cầu An Hạ là một trong 12 tổng của hạt Chợ Lớn (1880), rồi tỉnh Chợ Lớn (1910), gồm 11 xã thôn. Một phần của hai xã thôn tổng này sát nhập vào tp. HCM. Tên tổng do tên tên cầu mà ra.

Cầu Ba Thôn là rạch ở phường Thạnh Lộc, quận 12, tp. HCM. Vì rạch chảy dưới cầu Ba Thôn (Quới An, Quới Xuân, Thạnh Lộc) nên mang tên trên.

2.2. Kế đến, yếu tố thứ hai là tên các con vật.

Cầu Cá Lăng là kinh nối liền tp. HCM và tỉnh Bình Dương. Cá lăng là thứ cá nước ngọt, không vảy, giống cá tra, cá vồ.

Cầu Sấu là rạch ở đầu đường Hàm Nghi, quận 1, tp. HCM, có từ đầu nhà Nguyễn, từ khu ao đầm phía trong chảy ra rạch Bến Nghé. Năm 1892, rạch này bị lấp. Cầu Sấu vì ở ngay vàm rạch, bãi sông Sài Gòn, có vòng rào dự trữ cá sấu để bán và có cầu ra bắt cá sấu.

Cầu Vạc là suối ở xã Tân Hiệp, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Cầu Vạc là chiếc cầu mà ngày xưa vạc đi ăn đêm thường đậu nơi đây [8].

2.3. Tiếp theo, thành tố đứng sau là tên các từ chỉ sông nước.

Cầu Bến Mương là suối ở ranh xã Trung Lập Hạ, huyện Củ Chi, tp. HCM..

Cầu Kinh là sông nhánh của sông Vĩnh Bình, làm ranh giới của tp. HCM và tỉnh Bình Dương. Cầu Kinh cũng là rạch ở huyện Nhà Bè, tp. HCM.

Cầu Suối là kinh ở xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, tp. HCM, dài độ 7.200m.

Cầu Vụng là sông ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Cầu Vụng vì sông chảy qua chiếc cầu ở mấy vụng nước của các xã Khánh Hội, Khánh Nhạc [6, 270].

2.4. Yếu tố đứng sau vốn là sản phẩm được bán trên địa bàn.

Cầu Dầu là cống đặt dọc con rạch nhỏ, nơi khu chuyên bán dầu phụng, nay ở vị trí trước UBND tp. HCM. Cống đã bị phá bỏ cuối thế kỷ 19.

Cầu Đường là xóm có cầu cạnh khu bán các loại đường tại Chợ Lớn ngày xưa. "Gia Định phú" (bài 1) có câu:

Trong Cầu Đường bao chuốt ngọt ngon, đủ đường phổi, đường cát, đường phèn, đường hạ;

Ngoài Xóm Bột phơi phong trắng dã, nhiều bột mì, bột đậu, bột lọc, bột khoai.

Cầu Giấy là quận của tp. Hà Nội, diện tích 12,1km2, dân số 142.800 người (2006), thành lập từ tháng 11 – 1996, gồm 8 phường. Tại quận này trước đây có một làng chuyên sản xuất giấy nên gọi làng Giấy. Ở đây có một cái cầu làm theo kiểu thượng gia hạ kiều (“trên là nhà, dưới là cầu”), bán chủ yếu các loại giấy nên mang tên cầu Giấy, có từ thời nhà Lý. Tên cầu chuyển thành tên quận [2].

Cầu Mật là một cách gọi khác rạch Ông Bé (đúng tên là Ong Bé, cũng gọi Cầu Cạn) ở quận 8, tp. HCM. Vì người ta lấy mật ong ở hai rạch Ong Lớn và Ong Bé ra bán gần cầu.

Cầu Muối là chợ ở phường Cầu Ông Lãnh, quận 1, tp. HCM. Đây là chợ đầu mối rau quả và hoa tươi. Chợ xây xong năm 1874. Ở vào khu vực trước kia có bắc cầu qua rạch (đã bị lấp làm con đường, nay là Nguyễn Thái Học) để chuyển muối Bà Rịa từ dưới ghe lên kho nên chợ có tên này [4].

Cầu Xóm Rượu là ấp của xã An Phú, huyện Bình Chánh, tỉnh Gia Định trước năm 1975. Nay thuộc xã Phong Phú, huyện Bình Chánh. Tại nơi này trước đây có xóm chuyên nấu rượu.

2.5.Chất liệu của cầu thường là yếu tố đứng sau.

Cầu Đá là bến tàu ở tp. Nha Trang, xây năm 1920, đến năm 1927 được nâng cấp, có chiều dài 24m. Cầu Đá là “cầu cảng xây bằng đá”. Cầu Đá còn là suối ở làng Xuân Trường (1902), nay thuộc phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, tp. HCM.

Cầu Đất là tên xóm, còn gọi là xóm Biện Tao, ở tp. HCM. Vì cầu xây bằng đất nên mang tên trên.

Cầu Giát là thị trấn, huyện lỵ huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Giát là tấm vạt tre đan. Vì mặt cầu được lót bằng những tấm vạt nên gọi là cầu Giát (pont en claies de bambous). Tên cầu chuyển thành tên thị trấn [3].

Cầu Sắt là tên rạch và tên vùng đất ở huyện Hóc Môn, tp. HCM..

Cầu Tre là phường của quận 11 cũ, trước 30 - 4 -1975, nay là địa phận của tp. HCM. Cầu Tre còn là rạch ở vùng Củ Chi.

Cầu Ván là tên ít nhất bốn con rạch ở tp. HCM.

2.6. Một số từ chỉ hướng của cầu so với dòng sông hay con đường.

Cầu Ngang là huyện của tỉnh Trà Vinh, diện tích 328,7km2, dân số 127.700 người (2006), gồm 2 thị trấn Cầu Ngang, Mỹ Long và 13 xã. Cầu Ngang vốn chỉ những chiếc cầu vuông góc với dòng chảy. Cầu Ngang còn là tên sáu con rạch và xóm ở tp. HCM.

Cầu Xéo là khu vực ở thị trấn Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Cầu Xéo vì chiếc cầu xéo góc với con đường [8]. Cầu Xéo còn là tên khu vực ở quận Tân Bình. Cầu xéo là cầu bắc xéo qua kinh rạch.

2.7. Đứng sau từ cầu là tên cây cối ở chung quanh.

Cầu Bông là rạch ở quận Bình Thạnh, tp. HCM. Vì chảy gần cầu Bông nên rạch mang tên này. Mà cầu Bông là cầu gần vườn hoa của Tả quân Lê Văn Duyệt.

Cầu Da và Cầu Dà là hai con rạch ở vùng Bình Chánh, tp. HCM. Da là cây đa và Dà là giống cây sác, vỏ có nhiều tanin, dùng làm thuốc nhuộm và thuộc da.

Cầu Dền là phường của quận Hai Bà Trưng, tp. Hà Nội. Cũng gọi Cầu Giền, Cầu Rền. Cầu Dền có hai cách lý giải: 1. Cầu bắc qua sông Kim Ngưu, hai bên sông trước đây có trồng nhiều rau dền nên cầu mang tên trên [2]. Tên cầu chuyển thành tên phường. 2. Tên cầu Dền gốc ở Hoa Lư, Lý Thái Tổ mang ra đặt cho Hà Nội khi dời đô [5].

Cầu Dưa, Cầu Dừa, Cầu Tràm là tên ba con rạch ở tp. HCM.

Cầu Kè là huyện của tỉnh Trà Vinh, diện tích 245,8 km2, dân số 116.200 người (2006), gồm một thị trấn và 10 xã. Cầu Kè là do ba dòng sông kè sát chiếc cầu bên chợ [1, 89]. Có thể cầu làm bằng cây kè hoặc ở cạnh cây kè thì có lý hơn [3].

Cầu Nhum là rạch ở huyện Hóc Môn, tp. HCM. Có lẽ do cầu Rạch Nhum nói gọn thành Cầu Nhum. Nhum là loại cây giống cây cọ nhưng lớn hơn, cũng có gai.

Cầu Sơn là rạch ở quận Bình Thạnh, tp. HCM, dài độ 1.000m. Trên rạch có cầu Sơn nên rạch mang tên này. Dưới thời Nguyễn, tại khu vực có một số cây sơn khá to (loại dùng làm sơn mài). Cầu Sơn cũng là khu phố chợ do Nguyễn Trấn (đô uý của Nguyễn Nhạc) lập, nhưng không thành công vì nước mặn, có nhiều kinh rạch đi lại khó khăn nên khó phát triển. Nay thuộc các phường 25, 26, quận Bình Thạnh [4].

2.8. Hàng loạt từ đứng sau chỉ tính chất của cầu.

Cầu Bé, Cầu Cạn, Cầu Cũ, Cầu Cụt, Cầu Dài, Cầu Đen, Cầu Lớn, Cầu Nhỏ, Cầu Trắng, Cầu Trệt là tên nhiều con rạch ở tp. HCM [4].

Cầu Gồ là thị trấn, huyện lỵ huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Cầu Gồ vốn có nghĩa là “cầu nổi cao lên một cách không bình thường”.

Cầu Hin là núi ở tây nam tp. Nha Trang, cao 972m. Cầu Hin là “cầu đen”.



2.9. Các công trình xây dựng ở chung quanh cầu cũng thường kết hợp với từ cầu để gọi tên các đối tượng liên quan.

Cầu Am, Cầu Bót, Cầu Chùa, Cầu Cống, Cầu Đập, Cầu Đình, Cầu Cống Lở, Cầu Lăng, Cầu Miếu, Cầu Quán, Cầu Trạm là tên raïch ôû tp. HCM [4].

Chỉ có một số địa danh ở tp. HCM đáng chú ý: Cầu Kho, Cầu Lầu, Cầu Nhà Việc.

Cầu Kho là phường của quận 1, tp. HCM. Cầu Kho vì trên địa bàn phường trước đây có kho Cẩm Thảo, được xây dựng năm 1805, chứa lúa [4].

Cầu Lầu là rạch ở các phường 15 và 17, quận Bình Thạnh, từ rạch Cầu Bông đến rạch Văn Thánh, dài độ 800m. Trên cầu trước đây có xây một cái chòi như cái lầu để khách nghỉ chân, sau đó đã hư. Rạch đã bị ấp từ lâu.

Cầu Nhà Việc là rạch ở huyện Củ Chi, tp. HCM. Nhà việc (cũng gọi nhà làng, nhà vuông) là nhà làm việc quan, tức cơ quan nhà nước ở xã ấp dưới thời phong kiến.

Cầu Đập là rạch của sông Vĩnh Bình, ăn thông với rạch Nước Trong, gần ranh giới quận Thủ Đức (tp. HCM) và tỉnh Bình Dương.

Cầu Kho là khu vực thuộc phường Thuận Lộc, tp. Huế. Nơi này trước đây có các kho tiền, thuốc súng và diêm tiêu,… sau đó lần lượt dời đi, dân đến ở, nên có tên trên [7].

2.10. Sau cùng, yếu tố sau là tên các nhân vật có quan hệ đến cầu.

Cầu Bà Cả, Cầu Bà Đề, Cầu Bà Nga, Biện Tao (còn gọi xóm Cầu Đất), Cầu Huệ (hay Cầu Lão Huệ), Cầu Hương Việt, Cầu Ông Bông, Cầu Ông Búp, Cầu Ông Cai, Cầu Ông Đèo, Cầu Ông Đụng, Cầu Ông Nhiêu, Cầu Ông Tán, Cầu Ông Thìn, Cầu Ông Thoàn, Cầu Quan, Cầu Vàm Thuật,…hầu hết là tên rạch, xóm,… ở tp. HCM [4].

Cầu Ông Lãnh là rạch, chợ, phường ở quận 1, tp. HCM. Ông Lãnh ở đây là Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng (1798 – 1866), người có công xây chiếc cầu nơi đây và có công chống Pháp.



Ngoài ra, còn khá nhiều cầu khó xếp vào loại nào, tạm kể ra sau đây vì nguồn gốc khá đặc biệt của chúng.

Cầu Chông là rạch từ rạch Bến Nghé chảy vào địa phận quận 4, tp. HCM. Sở dĩ có tên này là vì khi đóng quân ở bên kia rạch Bến Nghé, Nguyễn Ánh đã cho cắm chông để ngăn bước tiến của quân Tây Sơn [4].

Cầu Đông là chợ lớn ở thành Thăng Long từ thời Lý – Trần đến giữa tk. 19. Sông Tô Lịch bị lấp, cầu Đông (ở hướng đông) không còn. Chợ Cầu Đông và chợ Bạch Mã dời đến phường Đồng Xuân nên gọi là chợ Đồng Xuân, tiền thân của chợ Đồng Xuân hiện nay.

Cầu Đúc là sông ở huyện Bình Chánh, tp. HCM. Cầu Đúc là cầu xi măng cốt thép.

Cầu Hai là đầm nước mặn ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế, rộng 10.500ha, thông với phá Tam Giang và biển Đông ở cửa Tư Hiền. Cũng gọi là Cầu Đôi. Cầu Hai có lẽ là hai chiếc cầu ở kế cận nhau.

Cầu Hàn là rạch chảy dưới cầu Hàn, quận 7, tp. HCM. Vì cầu hay bị xói mòn chân và lòng cầu đã bị “hàn” kín nên rạch Cầu Hàn trở thành rạch chết, khô cạn dần.

Cầu Hộc là rạch chảy dưới cầu Hộc, đổ ra rạch Bến Nghé tại quận 5 ngày nay. Rạch đã bị lấp. Trong xóm có cái giếng mà thành giếng bằng gỗ như hình cái khuôn đều đặn nên gọi giếng Hộc. Cầu cạnh giếng nên mang tên trên.

Cầu Khởi là rạch ở vùng Hóc Môn, tp. HCM. Cầu Khởi vốn là cầu khỉ, loại cầu bắc ngang mương, đẽo bằng cây tròn, cây tạp gập ghềnh khó đi.

Cầu Lòn là xóm ở phường Đúc, tp. Huế. Cầu Lòn vì tại khu vực này, từ năm 1908, có giao lộ xe lửa và đường bộ, xe lửa chạy ở trên, người đi bộ đi dưới cầu [7].

Cầu Nổi là bến phà ở Mỹ Lợi, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, trên ql. 50. Cầu Nổi vì một đầu cầu tựa vào đất liền, một đầu cầu bắc trên các trụ giữa dòng sông để phà cập vào.

Cầu Sa là lươn (xẽo) ở quận 12, tp. HCM, chảy vào kinh Tham Lương, dài độ 4.500m. Lươn hoặc con lươn là dòng nước nhỏ hẹp như hình con lươn, như con lươn Quyền. Sa là nơi chắn ngang dòng nước để bắt cá.

Cầu Võng là rạch chảy dưới cầu Võng, tp. HCM. Sở dĩ gọi như thế là vì dưới thời Pháp thuộc, đây là chiếc cầu treo, người đi qua, cầu lắc lư như chiếc võng.

Cầu Xáng (năm địa danh) là xóm, chợ, ấp, khu dân cư ở tp. HCM.. Xáng do chữ Pháp chaland (sà lan) vì máy đào kênh đặt trên một sà lan nên người địa phương lấy tên vật này gọi vật kia theo phương thức hoán dụ. Kinh xáng là con kinh do xáng đào và cầu Xáng là chiếc cầu bắc qua con kinh này.

Cầu Xe Lửa là rạch ở quận 12, tp. HCM. Năm 1896-1897, đường sắt Sài Gòn - Hóc Môn được xây dựng cho tàu điện (tramway) hoạt động nên có cầu này và cầu Ga.

3. Số lượng địa danh mang thành tố Cầu khá phong phú, nhất là ở vùng Nam Bộ. Điều này cho biết đây là vùng đất có nhiều sông nước. Cho nên muốn biết văn hóa Nam Bộ, ta không thể không nghiên cứu tên cầu.


ST
Hình đại diện của thành viên
vu thi chinh
Lớp 2
Lớp 2
 
Bài viết: 97
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 4 05, 2012 4:21 am
Đến từ: K4


Quay về Văn Hóa Việt Nam và Thế Giới

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron