Nhà thơ Kiên Giang - Kỳ 1: Chuyện 'Hoa trắng thôi cài'

Những giai thọai, huyền thọai và tiểu sử của nghệ sĩ

Nhà thơ Kiên Giang - Kỳ 1: Chuyện 'Hoa trắng thôi cài'

Gửi bàigửi bởi VoChieu21 » Thứ 5 Tháng 11 06, 2014 11:52 pm

Cái tên Kiên Giang bắt đầu được biết đến trên thi đàn miền Nam Việt Nam từ năm 1955. Kiên Giang đã để lại cho đời nhiều bài thơ thuộc hàng tuyệt tác. Nét đặc sắc ở thơ Kiên Giang là lời thơ chân chất, bình dị, nhưng rất diễm tình, rất nên thơ...

Bên cạnh sự nghiệp thi ca, Kiên Giang còn là một soạn giả lừng danh một thời với Năm Châu, Viễn Châu, Hà Triều - Hoa Phượng, Quy Sắc. Đặc biệt, hai soạn giả Hà Triều - Hoa Phượng được xem là đệ tử của ông. Những vở cải lương của Kiên Giang thường là những chuyện tình buồn. Lời văn trong các vở tuồng lúc nào cũng đơn giản, mộc mạc, gần gũi với bà con Nam bộ.


Nhà thơ Kiên Giang - Kỳ 1: Chuyện 'Hoa trắng thôi cài' và hai đoạn kết

(TNO) Nhà thơ - soạn giả Kiên Giang, một trong những người nghệ sĩ cuối cùng của thế hệ thơ văn thời kháng Pháp ở Nam bộ, đã từ trần vào lúc 6 giờ 30 ngày 31.10 tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (TP.HCM). Thế nhưng, đời thơ và những tuồng tích bất hủ của ông vẫn lưu luyến mãi với bao thế hệ…
Hình ảnh
Nhà thơ Kiên Giang - Ảnh gia đình cung cấp


Kỳ 1: Chuyện 'Hoa trắng thôi cài' và hai đoạn kết


Người viết được may mắn thân thiết với nhà thơ Kiên Giang - Hà Huy Hà - trong khoảng 15 năm cuối đời của ông. Kiên Giang là nhà thơ, là soạn giả cải lương (tác giả các vở tuồng Áo cưới trước cổng chùa, Sơn nữ Phà Ca…), là nhà báo - chứng nhân còn sót lại của sự kiện “Ngày ký giả đi ăn mày” (xảy ra vào năm 1974, báo giới miền Nam xuống đường với nón lá, bị, gậy của dân “cái bang” để chống đối Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra sắc luật đàn áp báo chí).

Người viết dù chơi thân với ông nhưng muốn gặp ông thật khó bởi ông luôn dịch chuyển (rất giống với ông bạn thân cùng lứa, cùng làng là nhà văn Sơn Nam). Có hôm, tôi gọi điện thoại ngỏ ý gặp ông để hỏi thêm một vài chi tiết cho bài viết. Ông bảo: “Tao đang ở gần sân vận động Thành Long (quận 8,TP.HCM), mày muốn gì, xuống đây!”…

Nếu có ai có dịp ngồi “chung chiếu” với nhà thơ Kiên Giang, hỏi ông về thời niên thiếu, về Sơn Nam, về Nguyễn Bính và nhất là về người con gái trong bài thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím là ông kể một mạch bằng một giọng bùi ngùi, không hề đứt đoạn, làm như những chuyện đó đã thấm vào máu thịt của ông…


Cái tên Kiên Giang bắt đầu được biết đến trên thi đàn miền Nam Việt Nam từ năm 1955. Kiên Giang đã để lại cho đời nhiều bài thơ thuộc hàng tuyệt tác. Nét đặc sắc ở thơ Kiên Giang là lời thơ chân chất, bình dị, nhưng rất diễm tình, rất nên thơ...

Bên cạnh sự nghiệp thi ca, Kiên Giang còn là một soạn giả lừng danh một thời với Năm Châu, Viễn Châu, Hà Triều - Hoa Phượng, Quy Sắc. Đặc biệt, hai soạn giả Hà Triều - Hoa Phượng được xem là đệ tử của ông. Những vở cải lương của Kiên Giang thường là những chuyện tình buồn. Lời văn trong các vở tuồng lúc nào cũng đơn giản, mộc mạc, gần gũi với bà con Nam bộ.

Yêu nhau rình ở cổng nhà thờ

17 tuổi, anh học trò Trương Khương Trinh (tên thật của Kiên Giang) rời vùng quê Rạch Giá lên Cần Thơ học lớp đệ nhị (lớp 11 bây giờ) ở Trường trung học tư thục Nam Hưng. Vốn có khiếu văn chương nên anh được các thầy giao cho thực hiện một tờ báo tường lấy tên là Ngày xanh. Kiên Giang biên tập bài vở và trình bày (vẽ, trang trí…), còn cô bạn Nguyễn Thị Nhiều thì nắn nót chép bài vở

Tuy mang cái tên rất dân dã nhưng Nhiều rất đẹp với khuôn mặt thanh tú và mái tóc dài ôm xõa bờ vai. Gia đình nàng theo đạo Thiên Chúa nên mỗi sáng chủ nhật nàng thường đi lễ nhà thờ Cần Thơ.

Kiên Giang không theo đạo nhưng sáng chủ nhật nào cũng “rình” trước cổng nhà thờ để được “tháp tùng” nàng trên đường đi lễ về. “Yêu nhau” chỉ có… vậy: ngoài những cái liếc mắt và những nụ cười thẹn thùng, e ấp thì hai người chẳng còn thứ gì để “trao đổi” nữa cả! Tuy thế, cả hai đều cảm nhận được những tình cảm sâu kín mà họ dành cho nhau…

Rồi cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra, kéo dài suốt 9 năm (1945 -1954), việc học hành bị gián đoạn, trường lớp tan tác… Kiên Giang và bạn bè thân thiết (Nguyễn Bính, Sơn Nam… ) vào Khu 8, tham gia kháng chiến, và rồi ông lập gia đình trong thời gian này…

Hai đoạn kết khác nhau

Sau này, nhiều lần Kiên Giang tâm sự với người viết: “Điều xót xa (sau này mới biết) là trong những tháng ngày loạn lạc đó, Nhiều vẫn âm thầm chờ đợi tôi. Năm 1955, nàng quyết gặp mặt tôi một lần rồi mới lấy chồng. Tình cảm ấy cứ ám ảnh tôi khôn nguôi. Tôi đưa tâm sự của hai đứa vào bài thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím, làm tại Bến Tre năm 1957. Ở đoạn kết có những câu: Ba năm sau, chiếc xe hoa cũ/ Chở áo tím về giữa áo quan/ Chuông đạo ngân vang hồi tiễn biệt/ Khi anh ngồi kết vòng hoa tang…, tôi đã 'cho' người mình thầm yêu phải chết đi, để mối tình kia còn nguyên vẹn là của riêng mình.

Tuy nhiên, một thời gian sau tôi có dịp 'gặp lại cố nhân' ở Sóc Trăng (lúc này nàng đã có chồng). Sau cuộc gặp gỡ đó, tôi lại muốn mình (người bạn trai trong bài thơ) chết đi để bảo vệ quê hương, không còn vương vấn mối tình thuở học trò. Tôi đã sửa lại đoạn kết như thế ở Hàng Xanh (Gia Định 1958), nhưng hầu như bạn đọc chỉ thích giữ nguyên tác, nhất là khi nó được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ thành ca khúc thì bài thơ lại càng nổi tiếng, lan tỏa… Trong thơ là thế nhưng sự thật ngoài đời chẳng có ai chết cả! Năm 1977, chúng tôi lại có dịp gặp nhau. 33 năm đã trôi qua, gặp lại, hai mái đầu đã bạc… Cả hai cố tránh không nhắc nhớ về cái thời cùng học dưới mái trường Nam Hưng, nhưng tự trong sâu thẳm tâm hồn cả hai vẫn trân trọng “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy…”.

Đầu năm 1999, Hãng phim truyền hình TP.HCM (TFS) có thực hiện một bộ phim tài liệu về ông mang tên Chiếc giỏ đời người (nhà thơ Kiên Giang đi đâu cũng kè kè một chiếc giỏ, mặt ngoài vẽ chi chít chữ - NV), trong kịch bản có một cảnh quay tại Cần Thơ. Khi ông và ê kíp làm phim đến nhà “người xưa” mời bà Nhiều ra quay cảnh ở nhà thờ Chính tòa thì thấy ngôi nhà đóng cửa, lạnh ngắt. Người hàng xóm cho biết bà Nhiều đã qua đời năm 1998. Ông thật xót xa… (còn tiếp)

Rong ruổi đầy nhân hậu

86 tuổi đời với gần 70 năm cầm bút, Kiên Giang đã để lại cho đời hàng trăm bài thơ, bài báo, bài vọng cổ và nhiều vở tuồng. Ngay cả trước khi bị đột quỵ (dẫn đến tử vong) ông vẫn đang xúc tiến việc in một tập thơ mới - coi như là “kỷ niệm cuối đời”, nhưng đành… để lại cho thân hữu tiếp tục lo việc in ấn.

Chơi thân với ông gần hai mươi năm chỉ thấy ông toàn “ăn nhờ ở đậu”. Ông dời chỗ ở không dưới chục lần. Hết che tạm cái chòi lá ở Khu Dưỡng lão Nghệ sĩ (quận 8, TP.HCM), lại về đường Bùi Minh Trực, hết lên quận 9 ở với nhà thơ Thiên Hà lại về Mỹ Tho là “ông từ giữ đền” cho Nhà Lưu niệm nhà văn Sơn Nam..., nhưng nơi ông luôn gắn bó đời mình chính là trụ sở Hội Ái hữu Nghệ sĩ TP.HCM (133 Cô Bắc, quận 1, TP.HCM). Ở đó ông là một trong những cố vấn của hội đề ra những phương án cứu trợ cho các nghệ sĩ neo đơn, những nhân viên hậu đài đang gặp khó khăn. 15 năm trước nhà văn Sơn Nam đã nhận xét về người bạn thân của mình: “Kẻ cần cứu trợ nhất lại là người tích cực vận động cứu trợ cho người khác!”.


Hà Đình Nguyên
Hình ảnh
Hình ảnh
Hình đại diện của thành viên
VoChieu21
Global Moderator
Global Moderator
 
Bài viết: 840
Ngày tham gia: Thứ 3 Tháng 4 03, 2012 2:31 am
Đến từ: K1

Re: Nhà thơ Kiên Giang - Kỳ 2: Tầm sư… Nguyễn Bính

Gửi bàigửi bởi VoChieu21 » Thứ 6 Tháng 11 07, 2014 12:07 am

Nhà thơ Kiên Giang - Kỳ 2: Tầm sư… Nguyễn Bính

(TNO) Vào khoảng năm 1946, cậu học trò Trương Khương Trinh đang học bậc trung học (ông sinh năm 1929 tại xóm Xẻo Đước, làng Đông Thái, huyện Tịnh Biên nhưng do nạn cướp biển lộng hành nên phải tản cư về Rạch Giá). Một hôm có người bạn học tên Nguyễn Phi Long khoe: “Nhà thơ Nguyễn Bính đang ở xóm biển, sau đình Nguyễn Trung Trực gần nhà tao”.

Hình ảnh
Nhà thơ kiêm soạn giả Kiên Giang

“Thi sĩ chân quê” đâu không thấy

Vốn mê thơ văn, mà Nguyễn Bính lại là thần tượng của mình nên Trương Khương Trinh (sau đây xin gọi là Kiên Giang dù lúc đó ông chưa lấy nghệ danh này) quyết đi tìm.

Đến xóm biển, người ta chỉ cậu đến nhà ông quản thủ địa bộ tên N.Đ. Lý (ông này vốn người gốc miền Bắc, thấy “đồng hương” lưu lạc đến tận cái xứ chót biển phương Nam này nên đón về, cho ở nhờ). Hỏi người nhà ông Lý thì họ bảo “Ông Bắc Kỳ đang ngủ ngoài đình”. Kiên Giang ra đình thờ Nguyễn Trung Trực, lúc ấy đã hơn 9 giờ sáng mà thấy cảnh vật vắng hoe.

Ông hỏi thăm một bà hàng nước xem có người nào dáng vẻ nho nhã như mình đã mường tượng không. Bà hàng nước chép miệng bảo: “Chẳng thấy nhà thơ nhà thẩn nào cả, chỉ có một anh hàn sĩ giống hệt “Trần Minh khố chuối” ngày nào cũng lật nóp nằm ngủ sau cửa đình. Chắc là ổng muốn xin Ngài báo mộng chi đó?”

Rặt chất Nam Bộ

Nghĩ cũng lạ, cái làng Đông Thái- nơi nhà văn Sơn Nam mô tả là “hiu hắt như ngọn đèn dầu mù u, quanh năm bọn cướp biển hoành hành” lại sản sinh ra hai cây bút lừng danh trong đời sống văn hóa Nam Bộ, đó là nhà văn - nhà nghiên cứu Sơn Nam và nhà thơ - soạn giả Kiên Giang. Cả hai đều được coi là những cây bút “rặc ròng” Nam Bộ.


Lúc này Kiên Giang mới nhìn kỹ, thấy một người vẫn còn nằm ngủ trong chiếc nóp (chằm bằng lá, giống như áo tơi). Đi quanh chiếc nóp một lúc, Kiên Giang đánh bạo đập dậy “Ông ơi, tui nghe nói ông vừa tới đây, tui cũng là người làm thơ. Xin chào mừng ông!”.

Ổng dậy, dụi mắt nhìn cậu học trò thiếu niên. Câu đầu tiên của nhà thơ là “Có thuốc không ?”. Thời may, Kiên Giang cũng mới tập tành hút thuốc. Trong túi có bao Cotab còn sót lại hai điếu. Sau khi “phê” hết cả hai điếu thuốc, Nguyễn Bính xé vỏ bao thuốc lá và ghi liền vào đó 4 câu thơ tặng người bạn mới:

Có những dòng sông chảy rất mau
Nhớ chi nghĩa bến với duyên cầu
Lá vàng hoa đỏ trôi không kịp
Lưu lạc ai ngờ lại gặp nhau…


Kiên Giang thỏ thẻ mời nhà thơ đi thưởng thức cà phê Quảng Phát - ngay chợ Rạch Giá, gần tiệm thuốc tây Nguyễn Khoa Dai. Khi Kiên Giang hỏi sao nhà thơ không ở nhà ông Ng.Đ.Lý nữa ? Nguyễn Bính cười buồn bảo rằng tại bà vợ ông này đẹp quá, mái tóc xõa dài cứ nằm trên võng ngâm thơ… Nguyễn Bính! Ông chồng phát ghen, có cử chỉ sao đó nên Nguyễn Bính buồn, bỏ ra ngoài đình ngủ.

Kiên Giang sực nhớ cách đó không xa có căn nhà bỏ trống của một người coi giữ sân banh (sân bóng đá), nên đã cùng Nguyễn Bính đi tìm người này điều đình để nhà thơ có chỗ trú thân… Nguyễn Bính đặt tên “giang sơn” của mình là “Mộc Kiều Trang”.

Trộm mắm… tiếp tế thầy

Dạo đó, bà mẹ của Kiên Giang làm nghề bán mắm cá đồng trong nhà lồng chợ Cầu Cất (Rạch Giá). Bà không thể ngờ rằng cậu quý tử vẫn rình mỗi lần bà rời khỏi quầy là thọc tay vào “thó” mấy đồng để mua thức ăn, gạo thì xúc ở nhà để “tiếp tế” cho ông thầy.

Nguyễn Bính không biết ăn mắm như dân Nam Bộ, nhưng rượu đế thì…uống tì tì ! Khi chỗ ở đã tạm ổn định, Nguyễn Bính viết mấy câu thơ dán trước cửa:

Từ dạo về đây sống rất nghèo
Bạn bè chỉ có gió trăng theo
Những phường phú quý xin đừng đến
Hãy để thềm ta xanh sắc rêu.


Chữ Nguyễn Bính rất đẹp, ông thường chép lại những bài thơ cũ của mình dán đầy lên vách:

Ở đây ngày lại qua ngày
Nhà không mở cửa mưa đầy tuần trăng


Rồi bài Nụ cười Bao Tự (Kiên Giang không còn nhớ), hoặc bài Những người của ngày mai (nhớ lỏm bỏm):

Quê các anh ở miền Bắc xa xôi
Bước chân đi đã biết mấy năm rồi
Xa chiếc cầu ao, xa mái rạ
Cô gái làng gội tóc nước hương nhu…
Quê anh ở miền Trung bát ngát
Bãi cát vàng bờ biển uốn quanh co….


Dưới mái Kiều Mộc Trang chỉ có hai thầy trò nhưng mỗi bữa ăn thường kéo dài hai, ba tiếng. Vừa ăn vừa đàm đạo chuyện văn chương, chuyện kháng chiến…

Bài thơ Tiền và lá của Kiên Giang cũng được sáng tác trong dịp này (cho nên văn phong cũng bị ảnh hưởng Nguyễn Bính ít nhiều - NV). Trò đọc cho thầy nghe, thầy khen nhưng sửa lại vài chỗ, như ở câu

Tiền không là lá em ơi
Tiền là giấy bạc của đời phồn hoa


Ổng sửa lại Tiền là giấy bạc của đời in ra, rồi ở câu cuối Chợ đời họp một mình tôi. Phiên chiều được sửa là Chợ đời họp một mình tôi vui gì...

Tình nghĩa thầy trò ở Mộc Kiều Trang chỉ kéo dài mấy tháng, khi Kiên Giang trở về xóm Xẻo Đước (làng Đông Thái) chở lúa gạo cho gia đình cũng là lúc phong trào “Nam kỳ tự trị” của Nguyễn Văn Thinh đang lúc cao trào, họ tuyên truyền “Đả đảo Bắc kỳ” một cách quá khích. Mấy ngày sau, khi Kiên Giang trở lại Rạch Giá thì hay tin Nguyễn Bính bị bắt giam ở bót Giếng Nước, ông có mua xôi và gói thuốc lá hiệu Mélia tiếp tế cho thầy.

Khoảng nửa tháng sau Nguyễn Bính được thả, ông buồn rầu nói với Kiên Giang: “Chắc là anh phải xa em thôi.”. Rồi Nguyễn Bính âm thầm vào chiến khu. Ít lâu sau, Kiên Giang nghe nói Nguyễn Bính đang là Chủ tịch Hội Văn nghệ Cứu quốc tỉnh Rạch Giá. Lần gặp cuối cùng giữa hai thầy trò là ở xóm Nước Trong (Khu 9), Kiên Giang đãi thầy một bữa thịt gà, do mình “cải thiện” được !

Năm 1956, Kiên Giang lên Sài Gòn làm “thầy cò” (sửa mo-rát) cho báo Tiếng Chuông, hàng xóm có một “ông cò” thứ thiệt (cảnh sát) hay hoạch họe. Tức mình, Kiên Giang cũng dán bài thơ của Nguyễn Bính trước cổng:

Từ dạo về đây sống rất nghèo
Bạn bè chỉ có gió trăng theo
và chữa lại:
Những thằng bất nghĩa xin đừng đến
Hãy để thềm ta xanh sắc rêu…


Khoảng năm 1960, khi đang làm báo Tia Sáng ở Sài Gòn, Kiên Giang có gặp bà Hồng Châu (vợ Nguyễn Bính) mừng mừng tủi tủi, nhưng lúc đó cả hai cùng nghèo, cám cảnh nhưng không giúp đỡ gì cho vợ của cố nhân. Có điều an ủi là Tết Bính Ngọ (1966), khi được tin Nguyễn Bính mất, Kiên Giang có thực hiện một chương trình tưởng niệm nhà thơ Nguyễn Bính trên tuần báo Văn Nghệ của Trần Chi Lăng và trên Đài phát thanh Sài Gòn trong chương trình của Thi văn đoàn Mây Tần do chính Kiên Giang làm trưởng đoàn.

Trong những vở tuồng thành công của Kiên Giang, nổi tiếng nhất là hai vở Người vợ không bao giờ cưới và Áo cưới trước cổng chùa.

Người vợ không bao giờ cưới (còn được gọi là Sơn nữ Phà Ca), là câu chuyện tình của một chàng trai miền xuôi tên Mộng Long cùng cô sơn nữ Phà Ca... Mấy mươi năm trước “Sơn nữ Phà Ca” từng là vai diễn để đời của “Sầu nữ” Út Bạch Lan. Đây cũng là vai diễn đã đưa cô đào trẻ Thanh Nga lên ngai “Nữ hoàng Sân khấu” khi cô đoạt giải Thanh Tâm vào năm 1958, mở đầu cho một sự nghiệp chói lọi sau này.

Áo cưới trước cổng chùa cũng là một tuyệt tác đậm chất thơ của Kiên Giang. Vở tuồng viết về ngôi chùa Phù Dung ở quê hương ông. Hiện nay, bên cạnh ngôi chùa hiện vẫn còn ngôi mộ của một người phụ nữ tên là Dì Tự, người được cho là thứ thiếp của tổng trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tích. Xuân Tự là một trong những vai diễn ấn tượng của Nữ hoàng sân khấu Thanh Nga. (Lệ Thủy cũng từng tỏa sáng với vai Xuân Tự tại đoàn 2.84).


Hà Đình Nguyên
Hình ảnh
Hình ảnh
Hình đại diện của thành viên
VoChieu21
Global Moderator
Global Moderator
 
Bài viết: 840
Ngày tham gia: Thứ 3 Tháng 4 03, 2012 2:31 am
Đến từ: K1

Re: Nhà thơ Kiên Giang - Kỳ 1: Chuyện 'Hoa trắng thôi cài'

Gửi bàigửi bởi sonnuphaca » Thứ 6 Tháng 11 07, 2014 10:37 am

Cảm ơn Chiêu Đsh. nhắc nhở. Muội còn nhớ câu hát vô cùng buồn bã của Xuân Tự với giọng trầm của tài nữ Thanh Nga:

" Mỗi lần giở nắp rổ may
Mẹ ơi con nhớ đến ngày vu quy."

Sơn Nữ Phà Ca.
Hình đại diện của thành viên
sonnuphaca
Lớp 11
Lớp 11
 
Bài viết: 2634
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 4 05, 2012 3:28 pm
Đến từ: K10

Re: Nhà thơ Kiên Giang - Kỳ 1: Chuyện 'Hoa trắng thôi cài'

Gửi bàigửi bởi Ly Diep » Thứ 7 Tháng 11 08, 2014 7:18 am

Cảm ơn Chiêu huynh. Những tài liệu nầy thật là quý. Kẻ hậu sinh chúng ta bái phục người đi trước từ tài năng,đức độ lẫn nhân cách sống. Kiên Giang - Sơn Nam - Nguyễn Bính là những nhà thơ nhà văn em quý. Có điều họ hút thuốc dữ quá. Hình như " hút thuốc ra văn..." thì phải.
Hình đại diện của thành viên
Ly Diep
Lớp 3
Lớp 3
 
Bài viết: 141
Ngày tham gia: Thứ 6 Tháng 4 06, 2012 1:07 am
Đến từ: K3 - Lý Trưởng


Quay về Nghệ Sĩ và Giai Thoại

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron