Áo Dài Việt
Trần Thị Lai Hồng
“Có t́m hiểu
dĩ văng của chính ḿnh th́ mới quư nó được, và có quư trọng dĩ văng th́ mới t́m
được hướng đi cho tương lai”. Đó là lời của cố học giả Nguyễn Hiến
Lê mà người viết bài này
muốn gửi đến các bạn trẻ và những ai quan tâm đến
việc bảo vệ kho tàng văn hóa dân tộc. Khi t́m đọc Văn học sử
Việt
Áo dài Việt
Chiếu Vua mồng sáu tháng ba
Cấm quần không đáy,
người ta hăi hùng!
Không đi th́ chợ không
đông
Mà đi th́... lột quần chồng
sao đang!
Có quần ra đứng bán
hàng
Không quần đứng nấp
đầu làng trông quan!
Trước sự than văn và chống đối của giới nữ, phe đàn ông con trai an ủi vỗ về:
Trúc xinh trúc mọc ngoài sân
Em xinh th́ váy hay quần vẫn
xinh!
Từ chiếc
áo ngũ thân, vạt con nấp sau vạt trước được cắt ngắn bớt
cho gọn, và đó là h́nh dáng
chiếc áo dài Việt
Vè vẻ vè ve
Nghe vè ”mốt” áo
Bận áo lơ-muya
Đi giày cao gót
Xách bóp-tờ-phơi
Che dù cánh dơi
Đi chơi Cụ Ngáo
Ăn cháo không tiền
Cổi liền lơ-muya!
Tại Hà Nội,
cây bút châm biếm thời đại Tú Mỡ cũng có bài nhại Mười Thương về áo tân thời
như sau: Một thương tóc lệch đường
ngôi
Hai thương quần trắng,
áo mùi, khăn ”san”
Ba thương hôm sớm điểm
trang
Bốn thương răng mọc
hai hàng trắng phau
Năm thương lược Huế
cài đầu
Sáu thương ô lụa ngả
màu thanh thiên
Bảy thương lắm bạc
nhiều tiền
Tám thương động tư ”nữ
quyền” giở ra
Chín thương cô vẫn ở
nhà
Mười thương... thôi
để ḿnh ta thương ḿnh!
Tại Sài G̣n vào năm 1934, trong truyện dài bằng thơ Lời Tâm Sự của Thuần Phong đăng trên tạp chí Cùng Bạn, cũng có một bài thơ giễu nhẹ các cô tân thời:
Một
yêu mặt trắng má tṛn
Hai yêu môi mọng thoa son điểm
hồng
Ba yêu mắt sáng mày cong
Bốn yêu mái tóc nực nồng
nước hoa
Năm yêu mảnh áo ngắn
tà
Sáu yêu quần trắng là đà
gót sen
Bảy yêu vóc liễu dịu mềm
Tám yêu giọng nói vừa hiền
vừa vui
Chín yêu học thức hơn
người
Mười yêu, yêu cả đức
tài h́nh dong!
Những h́nh ảnh lố lăng quá trớn của một số phụ nữ chạy đua theo thời trang và kiểu áo Lemur mới mẻ đă được Vũ Trọng Phụng mô tả tỉ mỉ trong tác phẩm trào lộng thời đại Số Đỏ. Một số các bà thủ cựu đă không ngần ngại tẩy chay kiểu áo quá tân thời này, thậm chí có bà đă xé toang vạt áo Lemur khi gặp một cô ăn mặc táo bạo trên đường phố Hà Nội. Bốn năm sau khi áo Lemur xuất hiện và chết yểu, vào năm 1934, họa sĩ Lê Phổ đă cải tiến Lemur, loại bỏ những đường nét Tây phương táo bạo để dung ḥa với kiểu áo ngũ thân cũ, không nối vai nối tay, không tay phồng cổ hở mà vẫn cổ kín vạt dài không viền tṛn nhưng ôm sát thân người để hai tà áo mềm mại tự do bay lượn. Chiếc áo dài canh tân này được hoan nghênh nhiệt liệt trong Hội Chợ Nữ Công Đà Nẵng năm 1934 với gian hàng phụ nữ có các bà các cô đứng bán mứt bánh và đồ thêu đan, đoan trang hiền thục dịu dàng với áo mầu quần trắng tóc búi lỏng hoặc vấn trần hay vấn khăn nhung. Tới đây, chiếc áo dài dung ḥa được mới với cũ để tôn vinh những nét đẹp của người nữ và t́m được nhân dáng chính xác, để đứng vững từ đó cho đến bây giờ. Suốt cả ba thập niên sau đó, chiếc áo dài không có nhiều thay đổi lớn ngoại trừ cổ áo khi cao lúc thấp, khi vuông lúc tṛn, khi kín lúc hở; chiều dài cũng lên xuống khi mini lúc maxi; gấu áo cũng khi lớn lúc nhỏ; ṿng eo có khi rộng lúc thắt chặt. Chiếc quần cũng thay đổi từ kiểu cẳng què qua đáy giữa, lưng từ to bản luồn giải rút đổi sang lưng nhỏ luồn dây thun rồi đổi gài nút, và sau cùng là khóa kéo kiểu Tây phương; trong khi ống quần cũng theo thời khi chân voi lúc ống túm. Cho đến cuối thập niên 1950, áo dài Việt Nam theo ḍng lịch sử thay đổi từ chế độ Quân chủ sang chế độ Cộng Ḥa với một nhân vật nữ: Bà Ngô Đ́nh Nhu nhũ danh Trần Lệ Xuân, phu nhân bào đệ cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Ngày 6 tháng 12 năm 1958, trong dịp khai mạc Triển Lăm Nữ Công tại Cô Nhi Viện Nữ Vương Ḥa B́nh ở Sài G̣n, bà Nhu xuất hiện với kiểu áo dài không cổ tay ngắn mang bao tay trắng, tóc bới cao. Một số các bà các cô trong Hội Phụ Nữ Liên Đới vội vàng may mặc theo kiểu mới hở cổ: Cổ thuyền, cổ vuông, cổ tṛn, cổ trái tim... Nhưng bà Nhu lộng quyền thao túng nền Đệ Nhất Cộng Ḥa và gây bất măn khắp nơi. Nhiều vụ xuống đường, tuyệt thực, tự thiêu đă xảy ra để bày tỏ chống đối. Chiếc áo dài cũng tham gia cuộc chống đối nhưng thầm lặng hơn, với kiểu áo dài cổ cao tận cằm đối lập kiểu áo không cổ. Sau đó, áo không cổ của bà Nhu cũng theo bà qua Tây nấp trong bóng tối mà mai một. Đầu thập niên 1960, nhà may Dung Dakao ở Sài G̣n tung một kiểu mới: Áo dài tay Raglan mặc với quần xéo ống rộng. Kiểu áo cập nhật này giúp xóa bớt những đường nhăn hai bên nách và vai v́ được ráp tay xéo vai, nên thân h́nh người nữ được ôm gọn trong hàng lụa một cách đầy thẩm mỹ. Thuở đó, giới nữ sinh thích mặc ngắn gọn nên có kiểu mini-raglan tay ngắn vạt nhỏ và tà áo chỉ dài tới gối, trong khi các bà thích kiểu maxi-raglan tha thướt nhu ḿ hơn. Chiếc quần xéo may bằng hàng mềm xếp xéo góc khi cắt, ôm sát hông nhưng hai ống ḷa x̣a mà mỗi bước đi thấp thoáng thấy mũi giầy ẩn hiện dưới song lụa. Nhiều người c̣n cầu kỳ hơn, may quần xéo bằng hàng mỏng hai lớp trông thật yểu điệu. Sau đó, một vài nhà may ở Sài G̣n tung kiểu áo ba tà gồm thân sau nguyên một vạt nhưng thân trước chia làm hai như kiểu áo tứ thân xưa, gài nút từ cổ xuống ngực rồi tới bụng th́ để thả mặc với quần tây kiểu chân voi để cập nhật với thời trang Âu Mỹ đang có kiểu quần ”bell bottom”. Cuối thập niên 1960, nhiều bà đưa ra một ”mốt” hay hay là mặc nguyên một bộ áo dài và quần mầu phấn tiên, may bằng tơ lụa nội hóa trông rất dịu dàng khả ái.
Một số ca sĩ lên sân khấu
lại mặc nguyên bộ mầu
sắc đỏ chói hay xanh
ngắt viền kim tuyến sặc sỡ. Từ kiểu
Raglan có nhiều kiểu biến chế lạ mắt:
Thân áo may bằng hàng dày, nhưng phía ngực và tay ráp bằng hàng ren hoặc hàng mỏng;
hoặc thân áo khác mầu với
hai tay, có khi là hai mầu
tương phản như đen trắng, hoặc đậm
nhạt, và có khi may bằng hàng rất mỏng nên phải
dùng hai hoặc ba lớp, ư hẳn
nhắc nhở đến ngày xưa các cụ mặc áo mớ
ba mớ bảy để phô trương sự giàu có của ḿnh. Nữ sinh Việt Nam trước
1975 đến trường đều thường là ”áo trắng học tṛ”, nhưng thứ hai chào cờ
phải mặc đồng phục: Áo trắng nữ sinh Đồng Khánh Huế, áo lam Hà Nội, áo
xanh da trời Trưng Vương, áo hồng Gia Long... những mầu áo thơ mộng
đă một thời lên hương qua thơ nhạc. Một điều ghi nhận là
sau khi không c̣n thể chế quân
chủ, kể từ thời Đệ nhất Cộng ḥa (tháng 7-1954), hầu
hết các cô dâu đều mặc
quốc phục áo dài có khoác
ngoài một áo thụng rộng may theo kiểu áo mệnh phụ hoặc áo hoàng hậu, và đội khăn
vành xanh hoặc vàng. Ư hẳn đó
là ngày nàng trở thành một
bậc mệnh phụ và
bước lên ngôi hoàng hậu
trong cuộc đời của chàng vậy. Từ cuối thập niên 1960, nhà
may Thanh Khánh ở Dakao đưa ra
những mẫu hàng thêu
hoa lá cành để may áo dài, và tiệm Saigon Souvenirs khu Thương xá Tax Sài G̣n
đưa ra những mẫu hàng vừa vẽ vừa thêu trên lụa rất quư phái lịch sự. Ba
nhà may nổi tiếng tại Sài G̣n trước 1975 là nhà may Thanh Khánh - nay mở tại
Paris, Pháp - nhà may Dung Dakao
và nhà may Thiết Lập
Pasteur - nay mở tại đường Brookhurst, Garden Grove, California, Hoa Kỳ. Như trên đă nói, chiếc áo
dài Việt Nam có số phận gắn liền với lịch sử dân tộc. Sau biến cố30
tháng Tư năm 1975, chiếc áo dài cũng theo những bước chân di tản lưu
vong ra ngoại quốc, trong khi chính trên quê hương ḿnh có một thời gian đă
đẩy lùi chiếc áo dài vào
bóng tối hoặc chôn
kín trong đáy tủ và chỉ được
đưa ra ánh sáng trong dịp
cưới hỏi lễ lạc.
Trên bước đường lưu vong, bất cứ
ở Mỹ, Phi, Âu, hay Á, chiếc
áo dài được nâng niu bảo
trọng hơn bao giờ. Ở đâu có người Việt là ở đó có áo dài, áo lụa, áo nhung, áo tơ, áo
gấm, áo vải, áo thêu, áo vẽ...
kể cá áo gấm lam, áo thụng
khăn đóng của quư vị tu mi nam tử. Phẩm chất, mầu sắc cũng như những
h́nh tượng trên áo được ḥa hợp với
tŕnh độ thẩm mỹ
khá cao. Trong số những
nhà sáng chế kiểu áo, phải kể đến Thành Lễ Hoàng Đ́nh Tuyên ở Paris với những kiểu
hoàn toàn mới lạ và táo bạo
như áo dài hở ngực hở
cổ, áo dài không có tay hoặc chỉ có một tay kiểu... độc thủ nữ hiệp,
áo dài cũn cỡn ngắn trên đầu gối kiểu...
lính thú đời xưa, áo
dài năm lớp hàng mầu
v.v... Đặc biệt các kiểu áo dài mới của Thành Lễ đều mặc với quần cùng màu hoặc
màu tương phản để tạo sự bắt mắt. Rất
may, đa số các kiểu mới
này đều c̣n giữ nguyên hai tà áo bất khuất bay lượn, nét đặc biệt của áo
dài Việt
Tài liệu tham khảo:
- Phan Kế
Bính, Việt
- Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, Đại Nam.
- Toan Ánh, Phong Tục
Việt
- Nhất Thanh, Đất Lề Quê Thói, Sống Mới.
- Nguyễn Khắc Ngữ, Những H́nh Ảnh Xưa, Nhóm Nghiên Cứu Sử Địa.
- P. Huard và M. Durand, Connaissance du Vietnam,
E.F.E.O.
- W. Robert Moore và Maynard Williams, Portrait of Indochina, The National Geographic Magazine