Ðiều Bí Ẩn Trong Bài Chức Cẩm Hồi Văn Của Tô Huệ Cách Đây Hơn 2000 Năm




Tô Huệ sống vào đời nhà Tần, có chồng là Ðậu Thao đi thú phương xa. Lâu ngày nhớ chồng, nàng làm một bài thơ, thêu lên bức gấm, dâng vua để xin cho chồng về. Bài thơ không viết từ trên xuống dưới, từ phải sang trái như lối thông thường mà bố trí thành 32 ô vuông, đặt tréo . Trong 32 ô vuông có 33 chữ lớn, còn các chữ nhỏ thì thêu ở cạnh các ô vuông .



Vua không đọc được. Quần thần và các bậc thức giả thời bấy giờ cũng không đọc được bức gấm thêu chữ này , không hiểu ý nghĩa của nó ra sao nên phải triệu tác giả đến đọc cho vua nghe. Vua nghe thơ hay, thấy lạ, cảm tấm lòng của nàng chinh phụ thương chồng, lại phục tài nữ công của nàng nên tha cho Ðậu Thao trở về.

Dưới đây là phần phiên âm :

CHỨC CẨM HỒI VĂN

Quân thừa Hoàng chiếu yên biên thứ
Tống quân viễn biệt hà kiều lộ
Hàm bi, yểm lệ, tặng quân ngôn
Mạc vong ân tình tiện trường khứ

Hà kỳ nhất khử âm tín đoạn
Ức thiếp bình vi xuân bất noãn
Quỳnh dao giai hạ bích đài không
San hô trướng lý hồng trần mãn

Thứ thời đạo biệt mỗi kinh hồn
Tương tâm hà thác cánh phùng quân.
Nhất tâm nguyện tác thương hải nguyệt
Nhất tâm nguyện tác lãnh đầu vân

Lãnh vân tuế tuế phùng phu diện
Hải nguyệt niên niên chiếu đắc biên
Phi lai phi khứ đáo quân bàng
Thiên lý vạn lý dao tương kiến

Thiều thiều lộ viễn, quan san cách
Hận quân tái ngoại trường vi khách
Thử thời tương biệt lô diệp hoàng
Thuỳ tín kỷ kinh mai hoa bạch

Bách hoa tán loạn phùng xuân tào.
Xuân ý thôi nhân hướng thuỳ đạo
Thuỳ dương tảo địa vị quân phan
Lạc hoa mãn địa vô nhân tảo

Ðình tiên xuân thảo chinh phân phương
Bảo đắc Tần trang hướng hoạ đường
Vị quân đàn đắc Giang Nam khúc
Phụ ký tình thâm đáo Sóc phương

Sóc phương thiều đệ sơn hạ việt
Vạn lý âm thư trường đoạn tuyệt
Ngân trang chẩm thượng lệ triêm y
Kim lũ la thường hoa giai liệt

Tam xuân hồng nhạn độ giang thanh
Thử thị ly nhân đoạn trường tình
Tranh huyền vị đoạn, trường tiên đoạn
Oán kết tiên thành, khúc vị thành

Quân kim ức thiếp trong thư san
Thiếp diệc tư quân bất tạm nhàn
Chức tương nhất bản hiến Thiên Tử
Nguyện phóng nhi phu cập tảo hoàn

Bài này đã được một số danh nho dịch sang tiếng Việt , bản dịch gần sát với nguyên bản và bay bướm cũng với số lượng là 280 chữ , đáng kể là của Hoàng Quang , một danh nho đời Lê thế kỷ 18. tiến sĩ Ngô Thế Vinh đời Tự Ðức thế kỷ 19 và của một ông tiến sĩ Hồ Ðắc thế kỷ 20 .
Bài thơ thất ngôn cổ phong này gồm tất cả 280 chữ. Ðoạn cuối bài thơ là nét chữ lớn, nằm trong 32 ô vuông, mỗi ô một chữ, riêng ô chính giữa có hai chữ: Thiên tử . Tại sao lại có chữ lớn và chữ nhỏ ?. Có lẽ Tô Huệ muốn gây sự chú ý của Ðức Vua vì mấy câu chữ lớn chính là cốt lõi của bài thơ nói lên cái ý tha thiết xin cho chồng về.
Bài thơ đã được chính Tô Huệ là tác giả đọc ra được ghi lại nhưng hướng dẫn để đọc được bài thơ như vậy thì nhiều người nói rất mơ hồ như là đọc từ bên trái , ngang ngoài biên , đọc xuống hàng biên bên phải lại đọc ngược lên , theo lối chử chi ...
Quả thất là rối rắm và khó khăn là không biết rõ, không biết bắt đầu từ đâu và kết thúc chỗ nào cho nên không ai đọc được ngoài chính tác giả nhưng khi khám phá ra được cách đọc và bắc đầu từ đâu của bức chử trên gấm mới biết được đó là một bài thơ rất độc đáo .
Ðọc được bài thơ thì mới chỉ cảm nhận được cái hay , cái chất thơ , cái nỗi lòng của Tô Huệ đối với chồng , nỗi lòng của một thiếu phụ mòn mõi đợi chồng , bức thông điệp tình yêu và nỗi nhớ nhung mà Tô Huệ gởi cho chồng đang ở ngoài biên cương .
Trước hết là bản dịch nghĩa của nhà thơ Tô Kiều Ngân chép ra để các bạn tham khảo :

Chàng vâng chiếu vua đi đồn trú nơi biên cương
Tiễn chàng qua cầu , đường xa thăm thẳm
Ngậm sầu , ngăn lệ , trao chàng mấy lời
Ðừng quên tình này dù xa cách
Một ra đi tin tức đành vắng bặt
Phòng không của thiếp xuân về chẳng ấm
Dưới thềm hoa rêu đã phủ xanh
San hô màng trướng đầy buị bám
Buổi ấy chia tay lòng khiếp hãi nhường bao
Lo làm sao cho gặp lại được chàng
Xin được làm ánh trăng nơi biễn xanh
Xin được làm mây lạnh trên đầu núi
Mây lạnh năm năm còn thấy được mặt chàng
Trăng biễn năm năm còn soi dấu biên cương (nơi chàng ở)
Bay đi bay lại còn đến được gần chàng
Thăm thẳm đường xa , núi non cách trở
Giận chàng còn mãi làm người khách nơi biến tái
Buổi ấy xa nhau lá hoa lau úa vàng
Ai tin bây giờ hoa mai đã trắng xóa
Hoa nghiêng ngã gặp mùa xuân sớm
Nỗi niểm xuân xui khó nói ra
Thùy dương rụng lá cũng vì chàng
Hoa rơi đầy đất ai người quét
Trước sân cỏ xuân tỏa mùi thơm
Ôm đàn Tần Tranh ra phòng họa
Vì chàng đàn trọn khúc Giang Nam
Gửi gắm tình này về phương Bắc
Phương Bắc sông núi xa xôi thăm thẳm
Vạn dặm tin chàng dứt hẳn rồi
Vật trang sức trên gối , nước mắt em thấm áo
Áo thêu vàng , lụa vẽ hoa cũng từng chịu ủ ê
Ba xuân hồng nhạn kêu qua sông
Cũng giống nỗi đau đứt ruột của một người xa cách
Ðàn chưa dứt mà lòng dứt trước
Oán kết rồi , đàn vẫn chưa rồi
Chàng nhớ em tình nặng như núi non
Em cũng nhớ chàng chẳng lúc nào khuây khỏa
Dệt bức gấm này cúi dâng Thiên tử
Xin cho chồng con được sớm trở về

Ðây là bản dịch thơ của tiến sĩ Ngô Thế Vinh :

Chàng vâng chiếu ra ngoài biên thứ
Thiếp đưa chàng kiều lộ xa xa
Mây lời tặng những châu sa
Tình ân ái ấy biết là nhớ không

Sao một phút tin hồng văng vẳng
Chốn chinh vi xuân chẳng ấm nồng
Dưới thềm lỗ chỗ rêu phong
Trong màng ngang dọc bụi hồng sương che

Khi tống biệt hồn kia kinh hãi
Biết làm sao cho gặp lại cùng
Ước gì như nguyệt bể đông
Ước gì như thể mây hồng đầu non

Mây non nọ may còn một thấy
Trăng bể kia soi dậy một phương
Những mong lại được gặp chàng
Dẫu nghìn muôn dặm rõ đường tương thân

Ðường thăm thẳm mấy lâu xa cách
Giận chàng còn làm khách ải quan
Ngày đi lư diệp mới vàng
Bây giờ đã mấy mai tàn trắng bông

Mai tán loạn gặp cùng xuân mới
Nỗi xuân riêng khôn nói cho ra
Vì chàng nên lá dương tà
Hoa rơi man mác ai là tảo nhân

Trước sân những cỏ xuân thơm nức
Ôm đàn tranh ra trước hoạ đường
Khúc Giang Nam gẩy vì chàng
Ðem tình cho đến sóc phương cõi ngoài

Ngoài phương sóc xa xôi thăm thẳm
Bức âm thư nghìn dặm thấy đâu
Pha phôi áo lệ gối sầu
Dưới thềm hoa lá cùng mầu nở ra

Qua sông ấy tiếng gà xao xác
Nỗi ly nhân trường đoạn khác đâu
Ðàn chưa rối ruột đã sầu
Cho nên một khúc cung sau chưa tròn

Chàng nhớ thiếp như non tình nặng
Thiếp nhớ chàng cũng chẳng tạm khuây
Hồi văn một bức thư này
Nhi phu xin sớm kíp ngày khởi qui

Khi nghiên cứu cấu trúc của bài Chức Cẫm Hồi Văn mới thấy hết cái cách chơi của người xưa quả thực là tuyệt diệu , một lối chơi thật tao nhã có một không hai mà đã trên 2000 năm nay cũng chưa có kẻ hậu sinh nào giải mã được cái bí quyết , cái bí mật cũng như bức thông điệp này gởi đến cho vua mà khi nhà vua cầm bức gấm lên thì chỉ thấy trước mắt mình chỉ có một chữ THIÊN TỬ nằm ở trung tâm vũ trụ, tất cả các chữ còn lại đều đọc được hết , nhưng toàn thể 280 chữ ấy nói cái gì ? thì Hoàng đế và cả quần thần học sĩ uyên bác cũng chỉ nhìn nó như một lời thách đố , sức mạnh , vũ lực , gươm giáo , quân sĩ và tiền bạc , chức tước đã phải ngậm ngùi trước một câu đố hiểm hóc của một người đàn bà thông minh là Tô Huệ này .
Một bản thông điệp có trong tay , mà không ai giãi mã được, trong kết cấu của bài Chức Cẫm Hồi Văn có ẩn chứa một điều bí mật ở những con chữ to nằm trong 32 ô. Nếu là Dụng Hồi văn thể kiêm liên hoàn, với 280 chữ thành 40 câu thơ , mỗi câu 7 chữ thì có thể đọc lên đến 1600 bài thơ và nếu là bình trắc lục vận độc thành thất ngôn, ngũ ngôn hay theo các con chữ 280 mà xếp thì có thể lên đến cả chục triệu bài thơ , một chương trình cho máy vi tính có thể xữ lý để in ra mấy chục triệu bài Chức Cẫm Hồi Văn đó .
Trong lịch sư chơi chữ của văn học Việt Nam thì khó có ai qua mặt được vua Thiệu Trị , ông để lại cho đời hai câu đố : Vũ Trung Sơn Thủy (Cảnh Trong Mưa), Phước Viên Văn Hội Lương Dạ Mạn Ngâm (đêm thơ ở Phước Viên). Ðó là một trận đồ bát quái có 56 chữ, ứng với một bài thơ thất ngôn bát cú được khảm xà cừ. Trên câu đố có ghi lời dặn cách đọc bên cạnh bài thơ. Theo chỉ dẫn của Vua đọc theo hai lối hồi văn kiêm liên hoàn, theo thể thất và ngũ ngôn sẽ được 64 bài, sau này có ông tiến sĩ Hồ Ðắc có bài thơ Trăng Ðêm đọc được 96 bài và gần đây có một ông tú ở Quang Trung, Bình Ðịnh có một bài thất ngôn bát cú đọc được 128 bài .

Xin chép ra đây bài dịch thơ của ông tiến sĩ Hồ Ðắc làng An Truyền ở Thừa Thiên , vì bài dịch này có các chữ và nghĩa gần giống và sát nghĩa nhất của Tô Huệ trong 33 con chữ , đặc biệt là chữ VUA nằm ở vị trí số 273 chữ VỀ nằm ở vi trí 280 . Bản dịch thơ của ông tiến sĩ Hồ Ðắc :

Chàng lảnh chiếu , dẹp yên ngoài cỏi
Tiễn đưa người tới lối cầu sông
Ngậm buồn , ngăn lệ . nhũ cùng
Dù xa cách mấy cũng đừng quên nhau

Từ dạo ấy tin đâu vắng vẽ
Ðể phòng the lạnh lẻo đêm xuân
Trước thềm rêu phủ xanh dần
Trong màn bụi bám mấy lần nào hay

Buổi chia tay lòng đầy kinh hãi
Biết làm sao gặp lại chàng ơi
Xin làm biển nọ trăng soi
Xin làm mây lạnh trên đoài non xa

Mây lạnh đó năm qua còn thấy
Biển năm năm trăng trẩy biên cương
Tới lui trăng vẫn bên chàng
Nghìn trùng vạn dặm có nhường thấy chăng ?

Ðường thăm thẳm quan sơn cách trở
Hận vì chàng sao ở quá lâu
Ngày đi vàng cánh hoa lau
Mà chừ trắng xóa cả màu bạch mai

Hoa nghiêng ngã gặp ngày xuân sớm
Nỗi niềm xuân biết ngỏ cùng ai
Thùy dương lá rụng chàng ơi
Hoa rơi ngập đất ai người quét đây

Trước sân đầy cỏ xuân thơm ngát
Chốn họa đường ôm chiếc Tần Tranh
Giang Nam dạo khúc vì chàng
Gởi tình em đến Bắc Phương cỏi ngoài

Nơi phương Bắc xa xôi vời vợi
Vạn dặm đường tin tới hay không ?
Gối , khăn lệ đẫm từng dòng
Áo vàng , lụa vẽ hoa cùng rưng rưng

Ba xuân đến , qua sông tiếng nhạn
Khác chi người xa bạn người ơi
Ruột đứt , đàn vẫn còn hoài
Ðàn chưa trọn khúc , đau nay đã thành

Chàng nhớ thiếp nặng tình như núi
Thiếp nhớ chàng khôn nỗi nào khuây
Cúi dâng một bức gấm này
Vua tha chàng sớm được quay trở về

Xin vẽ tặng các bạn một sơ đồ hướng dẫn cách đọc bài hồi văn này. Cũng xin đăng nguyên văn bằng chữ Hán để tiện việc đối chiếu . Bản chữ Hán này chúng tôi cho in theo bản tìm được ở nhà của nhà thơ Việt Trang tại Ðà Lạt. Chúng tôi đã chụp lại .

Hồ Đắc Duy



Phần sưu tập bổ sung .

Bản dịch của Hoàng Quang :

Chàng vâng chiếu ra yên cõi ngoại
Thiếp đưa chàng tới lối cầu sông
Ngậm sầu gạt lệ nhắn lòng
Chớ tham chốn khác mà vong tình này

Trông tin tức tới nay thăm thẳm
Để buồng hương chẳng ấm hơi xuân
Từ ngày đôi ngả cách phân
Màn dần bụi bám, thềm trần rêu phong

Tưởng ly biệt nỗi lòng kinh sợ
Thiếp với chàng bao thuở gặp nhau
Nguyện làm trăng giữa biển sâu
Nguyện làm mây phủ trên đầu non cao

Trăng giữa biển năm nào cũng thấy
Mây đầu non đường mấy cũng thông
Bay qua bay lại bên chồng
Dầu ngàn muôn dặm xa trông như gần

Quan sơn ấy mấy lần trở cách
Hiềm nỗi chàng làm khách rất lâu
Chàng đi mới ố bông lau
Mà nay mấy độ trắng màu hoa mai

Trăm hoa thức xuân tươi hớn hở
Xuân giục người than thở với ai
Dương kia đủ những tơ dài
Hoa kia rã cánh không người quét cho

Sân xuân sớm thơm tho trăm thức
Chốn hoạ đường lựa bậc đàn tranh
Giang Nam năm khúc rành rành
Mượn đầu năm mong gởi tình Sóc phương

Sóc phương ấy đôi đường diệu vợi
Âm thư này nhắn gởi khôn thông
Gối riêng nước mắt tuôn dòng
Xiêm thêu áo vẽ lâu cùng mục tan

Ba xuân tới tiếng nhàn gắng gởi
Xuân giục người bối rối như tơ
Năm dây còn đó sờ sờ
Buồn đà đứt ruột khảy chưa rồi đàn
Chàng thương thiếp tình hơn núi nặng
Thiếp nhớ chàng tình chẳng kém thua
Dệt đem bức gấm dâng vua
Xét lòng dạ thiếp tha cho chồng về

Bản dịch của Trương Minh Ký :

Chàng vâng hoàng chiếu thú an biên
Đưa tới Hà kiều rẻ thảm riêng
Ngậm thở ngùi than ngừng giọt lụy
Ân tình xa cách chớ hề quên

Đi ra tin đứt có dè sao !
Màn trướng đầu xuân ấm đặng nào !
Dưới bụi quỳnh diêu rêu biếc láng
San hô trong trướng bụi hồng bao

Nỗi lìa thuở ấy bắt kinh hoàng
Đem giũ lòng đâu gặp lại chàng
Lòng ước làm trăng ngoài biển cả
Hoặc làm mây nước chói cao san

Mây móc hàng năm thấy mặt chồng
Hàng năm trăng biển giọi soi cùng
Bay đi bay lại cho gần được
Muôn dặm thấy nhau kẻo đợi trông

Đường sá vơi vơi cách trở thay !
Hờn chàng ngoài ải ở lâu ngày
Thuở đi đưa đó lau vàng lá
Ai ngỡ hoa mai nở bấy chầy

Trăm hoa rộn rực sớm chào xuân
Ai đó mà xuân giục kẻ than
Đầy đất dương sà vì đó vén
Bông rời không kẻ quét đầy đàng

Thiệt thơm xuân sớm lối ngoài vườn
Ôm lấy tần tranh tới hoa đường
Ngâm khúc Giang nam vì đó khảy
Tình sâu xin gửi thấu lòng chàng

Bắc phương hiểm trở vượt non sông
Muôn dặm non từ dứt nẻo thông
Trấp bạc gối đầu dầm áo lụy
Chữ vàng xiêm giẻ thảy xười bông

Ba xuân hồng nhạn tiếng qua sông
Ấy đó người lìa đứt ruột trông
Chửa đứt dây đờn lòng đã đứt
Đã xong mối thảm, khúc chưa xong

Chàng nay nhớ thiếp nặng bằng non
Thiếp cũng nhớ chàng mỗi phút luôn
Một bổn dệt đem dâng cúng chúa
Cầu tha chồng thiếp sớm về cùng

CHỨC CẨM HỒI VĂN

Chinh Phụ Ngâm có câu :
" Đề chữ gấm, phong thôi lại mở "
Đời nhà Tấn (265-419) ở đất Thần Châu có nàng Tô Huệ tự Nhược Lan, dung nhan kiều mị, tài đức song toàn, văn chương xuất chúng.
Khi Tô được 20 tuổi, cha mẹ đính gả cho hàn sĩ Đậu Thao tự Liên Ba, người cùng quê. Vợ chồng ăn ở đầm ấm. Nàng Tô rất mực chìều chồng, đảm đương tất cả mọi việc gia đình để cho Đậu Thao có đủ thì giờ theo đuổi trau dồi nghiên bút. Người ở quanh vùng đều cho là hạnh phúc và hết sức khen nàng.
Sau Đậu Thao đỗ đạt làm quan, may mắn được nhậm chức tại Tần Châu, không phải đi đâu xa cả. Gia đình đã đầm ấm hạnh phúc lại càng đầm ấm hạnh phúc hơn. Nhưng rồi vì công vụ cần thiết, Vua truyền Đậu Thao ra trấn đất Lưu Sa. Vì nơi gian lao hiểm trở nên Đậu Thao đành phải để vợ ở nhà.
Thời gian qua ... Ba năm chờ đợi, nàng Tô ngày càng sức vóc mỏi mòn, dung nhan tiều tụy. Đêm đêm bên ngọn đèn khuya, nàng ngồi âm thầm đối bóng, tủi phận hờn duyên, lo ngại thân chồng mà giọt châu tầm tã. Lòng đau dằng dặc, nỗi nhớ triền miên nên hồn thơ dâng trào lên ngọc bút làm thành 10 bài tứ tuyệt. Nàng lại lấy gấm vuông độ chừng một thước, dùng chỉ ngũ sắc thêu 10 bài tứ tuyệt lên trên theo hình trôn ốc, từ ngoài xoáy tròn vài trung tâm bức gấm.
Nàng thêu khéo, chữ hay, nên bức gấm trông cực kỳ tuyệt mỹ. Xong nàng tự tay dâng lên nhà Vua. Thấy lạ Vua truyền cho quần thần đọc, nhưng cả triều không ai đọc được. Vua đành gọi nàng. Đứng giữa triều, Tô cất tiếng ngâm với một giọng não nùng bi thảm . Ngâm xong, nàng Tô nước mắt đầm đìa. Nhà Vua quá cảm động không dám nhìn nàng, vội hạ chiếu cho Đậu Tho về ngay.
Mười bài thơ ấy được truyền tụng với bức gấm thêu, ai cũng nức nở khen cho Tô là một bực kỳ tài. Trước họ gọi bức gấm thơ ấy là "Toàn Loa Đồ" ( bức đồ hình trôn ốc ), sau lại cho tên không xứng với giá trị của tác phẩm nên đổi là "Hồi Văn Cách" ( bài văn có tác dụng làm cho người đi biên thú được trở về ), nhưng cũng chưa thấy thỏa đáng. Cuối cùng, họ lại đổi và thêm tên tác giả là "Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn" .

Bài hát "Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn" điệu Nam Ai của Việt Nam :

Khi vâng chiếu chỉ để ra cờ
Từ chàng đi, thiếp bặt tin đợi chờ
Hồng nhạn kêu thu sông Hớn bơ vơ
Áo não nùng khiến dạ ngẩn ngơ
Trách bấy ông Tơ gieo chi mối sầu như tóc tơ
Nghĩ mấy lời từ hối ban sơ
Nhớ những khi thiếp nguyện trăn năm tam tùng thờ
Chàng mần răng ý lẳng lơ
Chân đi thăm thẳm, mắt ngóng luống nhớ cách núi ải, biết chừ trao thơ
Má phấn duyên phai lạt, hồng nhan trông đợi chờ
Trướng lý để bụi trần nhơ
Kìa cờ ai, nghe tiếng trống vẫn bóng xa xa
Hay là chiếu triệu chồng ta
Chốn giang biên, chàng ôi có hay chăng là
Để lụy tương tư này như chút phận Hằng Nga
Đêm đông quạnh quẽ, tiếng quyên hòa
Gìn lòng son nỡ để cho trăng già
Luông tuồng bao nỡ vắng bặt nhạn tin qua
Hay là ong bướm đã say đắm mê hoa
Chim Ô thước qua sông Ngân thường
Nỡ nào để cho loan phụng Sâm Thương
Chẳng biết no nao cá nước hội một trường
Kẻo nặng nề hai chữ uyên ương
Ong bướm dẫu say men hoa hường
Cũng đoái tưởng chút nghĩa tào khương
Chim bao nài bay qua cho tỏ tường
Để trông đợi tháng ngày thương
Trông tin chàng, đêm nằm mơ màng
Tỉnh giấc hòe trằn trọc thở than
Năm canh sầu riêng cho bạn vàng
Phận làm trai hiếu nghĩa trung cang
Bệ ngọc trên báu kiếm sắc phán
Chốn giang biên ra khử trừ đảng gian
Nước non xa cách muôn dặm, da người bọc mình chàng
Tuyết sương lạnh nơi chốn Đồng quan
Chàng trừ mô ra giai đất khởi ngụy bang
Cho rồi đặng trở về Trường An
Kẻo để tương tư này mày xanh sầu võ vàng
Soi đài gương luống thẹn hồng nhan
Châu rơi lã chã lẹ tuông đôi hàng
Hiềm vì ai xui duyên nợ lỡ làng
Ngàn trùng xa cách như khách ở ngoại bang
Bao nỡ bỏ cái nghĩa Ngưu lang
Thuở ra đi lau lá vàng
Bây chừ đã trắng mai rỡ ràng
Cung quế xơ rơ bóng nguyệt đã tàn
Ơn kia chưa trả oán nọ liền mang
Nghe tiếng dế năm canh mơ màng
Ngỡ tạc ngựa chàng đã hồi bang
Bởi duyên cớ nào bạc đen lòng phụ phàng
Để gió thảm mưa sầu khan
Chẳng biết no nao yên gót trở về
Trên ngai vàng bạc thẻ bêu kia
Răng rứa bạn niềm tây nhớ nghĩa, nhớ nghĩa
Mây bay khói tỏa in cờ rìa
Trống Trường thành dục điểm canh khuya
Bâng khuâng nhớ chàng như nhạn chít lìa
Thiếp lạy ông trời chớ có phân chia
Từ chàng ra chốn cung đao
Thiếp trông tin chàng tựa cá trông sao
Ôm gối phụng chờ trông áo não, áo não ...
Sao quên lời núi hẹn sông giao
Ai đi lấp thảm cho khuây má đào
Tương tư này rằng thấu cung sao
Ơn trên tha về đặng tỏ nỗi âm hao
Hiệp một nhà mới phỉ ước ao