CHIẾC NÓN QUÊ
HƯƠNG
Nguyễn Quư Đại
Nón nầy che nắng che mưa
Nón nầy để đội
cho vừa đôi ta
Ca dao
Nón lá không xa lạ với
chúng ta, ngày nay ở hải ngoại chỉ thấy nón lá xuất hiện trên sân khấu,
tŕnh diễn nghệ thuật múa nón và áo dài duyên dáng mền mại kín đáo của
thiếu nữ Việt Nam nổi
bật bản sắc văn hoá dân tộc, áo dài và nón lá là nét đặc
thù của phụ nữ Việt
-Nón dấu : nón có chóp nhọn của
lính thú thời xa xưa -
Nón g̣ găng
hay nón ngựa: sản xuất ở
B́nh Định làm bằng lá
dứa đội khi cỡi ngựa -Nón
rơm: Nón làm bằng cộng
rơm ép cứng
-Nón quai thao:
người miền Bắc thường dùng trong lễ hội
-Nón cời : nón rách
-Nón Gơ: Nón gơ làm bằng tre ghép cho lính hồi xưa
-Nón lá Sen: cũng
gọi là nón liên diệp
-Nón thúng: thứ
nón lá tṛn bầu giống cái thúng.
-Nón khua: Viên
đẩu nón của người hầu các quan xưa
-Nón chảo:
thứ nón mo tṛn lên như cái chảo úp nay ở Thái Lan c̣n
dùng
-Nón cạp:
Nón xuân lôi đại dành cho người có tang
-Nón bài thơ:
ở Huế thứ nón lá trắng và mỏng có lộng h́nh hay một vài câu thơ v.v.
Người
Việt từ nông thôn cho tới thành thị đều
dùng nón lá, nhưng ít người để ư nón lá có
bao nhiêu vành, đường kính rộng bao nhiêu cm?
Nón lá tuy giản dị rẻ tiền
nhưng nghệ thuật làm nón cần phải khéo tay.
Nghề chằm
nón không chỉ dành riêng cho phụ nữ mà cả những người đàn ông trong gia đ́nh cũng có thể
giúp chuốt vành, lên khung nón.
Với cây mác sắc, người làm nón chuốt từng
sợi tre thành 16 nan vành một cách công phu ; sau
đó uốn thành ṿng thật tṛn trịa và bóng bẩy. Người phụ nữ th́ chằm nức
vành. Để có được lá đẹp,
họ thường chọn
lá nón non vẫn giữ
được màu xanh nhẹ, ũi lá nhiều lần cho
phẳng và láng. Khi xây và lợp lá,
người ta phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp để
nón có thể thanh và mỏng. Nghề làm nón lá thường sản xuất từ miền Bắc
và miền Trung trong các làng quê
sau các vụ mùa, ở
các tỉnh miền
Chưa chồng
nón thúng, quai thao
Chồng rồi,
nón rách, quai nào th́ quai…
Thân phận của những bóng hồng khi về
chiều nhan sắc tàn phai:
C̣n duyên nón cụ
quai tơ
Hết duyên
nón lá quai dừa cũng xong
Dáng dấp con gái Việt
Sao em biết
anh nh́n mà nghiêng nón
Chiều mùa thu mây che có nắng đâu
Nắng sẽ
làm phai mái tóc xanh màu
Sẽ làm khô
làn môi em dịu ướt
C̣n ta mắt
anh..
Có sao đâu mà
em phải cúi đầu từ khước
Nếu nghiêng
nón có nghĩa là từ khước
Th́ mười
ngón tay em sao bỗng quấn quít đan
nhau
Nửa vầng
má em bỗng thắm sắc hồng đào
Đôi chân bước ..anh nghe chừng sai nhịp.
Thu Nhất
Phương
Ở Huế, có nhiều vùng chằm nón nổi
tiếng từ xa xưa cho đến bây giờ như: Phú
Hồ, Phước Vĩnh, Dạ Lê, Triều Sơn, Nam Phổ,
Kim Long,Dương Nỗ, Tân Mỹ, Hương Sơ, Mỹ
Lam, làng Chuồn, bên ḍng sông Như Ư, thuộc xă Phú Hồ,
huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế làm nón bài
thơ dáng thanh mảnh, độ mỏng, màu nón nhă nhặn
người ta c̣n cắt những bứctranh với chùa
Linh Mụ, cầu Trường Tiền, con đ̣ trên sông
Hương... và đặc biệt nhất
là vài câu thơ chất chứa tâm hồn xứ Huế:
Sông
Hương lắm chuyến đ̣ ngang
Chờ anh em
nhé, đừng sang một ḿnh
Ca dao
Sao anh không về thăm quê em
Ngắm em chằm nón buổi đầu
tiên
Bàn tay xây lá, tay xuyên nón
Mười sáu vành, mười sáu
trăng lên
Nguyễn Khoa Điềm
Tà áo dài trong trắng nhẹ nhàng bay
Nón bài thơ e lệ nép trong tay
Bích Lan
Những chiếc nón bài
thơ thường trở thành vật "trang sức"
của biết bao thiếu nữ. Lựa nón, lựa quai, cũng
là một thú vui nên không ít người đă kỳ công đến
tận nơi làm nón để đặt cho riêng ḿnh với
ḍng thơ yêu thích. Buổi tan trường, các con đường
bên sông Hương như dịu lại trong nắng hè oi ả
bởi những dáng mảnh mai với áo dài trắng, nón trắng
và tóc thề:
Ḍng nước sông Hương chảy lặng
lờ
Ngàn thông núi Ngụ đứng như
mơ
Gió cầu vương áo nàng tôn nữ
Quai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ
Nón bài thơ hiện hữu
trên khắp nẻo đường và trở nên gần gũi,
thân quen trong cuộc sống thường nhật của phụ
nữ Huế, dùng nónlá nâng hay đựng xoài, cũng tạo
nên nét đẹp mỹ miều.
Anh về B́nh Định ba ngày
Dặn mua chiếc nón lá dày không mua
Nón bài thơ đặc sản
Huế, nón G̣ Găng ở B́nh Định c̣n gọi là nón
ngựa làm bằng vành tre cật, chuốt nhỏ như
tăm, đan thành ba lớp mê sườn; bên ngoài phủ lớp
lá kè non, chằm bằng những đường chỉ
tàu trắng muốt và đều đặn. Trên đỉnh
chóp được gắn chụp bạc hoặc đồi
mồi có chạm trổ long-lân-qui-phụng. Quai nón
được làm bằng lụa xanh hoặc đỏ, bản
rộng và đều người ta chằm một chiếc
nón ngựa phải mất cả tháng trời dày công nhọc
sức. V́ vậy giá thành rất đắt, nó chỉ dành
cho những người cao sang quyền quí, những chức
sắc quan lại của triều đ́nh. Dần dần
theo nhu cầu của giới b́nh dân, nón ngựa được
cải biên thành ngựa đơn rồi nón buôn, nón chũm,
rẻ hơn nhiều. Các loại này đều không có chụp
bạc, nó được thay bằng những tua ngũ sắc
ở chóp nón cho đẹp. Ở các vùng làm nón, ngày cưới,
nhà giàu rước dâu bằng kiệu, chàng rể th́ đội
nón đi ngựa; c̣n những nhà nghèo cũng ráng sắm
đôi nón ngựa cho cô dâu chú rể đội đi trong
ngày cưới. Vậy nên có câu ca dao:
Cưới nàng đôi nón G̣ Găng
Xấp lănh An Thái, một khăn trầu
nguồn
Ngày nay các cô gái làm nón hầu
như không c̣n giữ được phương pháp làm nón
ngựa nữa. Họ quen với công đoạn nhanh, giản
tiện và dễ tiêu thụ của chiếc nón trắng mảnh
mai - một sản phẩm của quá tŕnh cải cách lâu
dài. Để làm loại nón này phải qua nhiều công
đoạn. Vấn sườn, lợp lá, chèn lá, chằm
và nức. Việc làm lá đ̣i hỏi nhiều tính tỉ mỉ
và kinh nghiệm lâu năm.Nghề nón là thuộc thị trấn
G̣ Găng, Nhơn Thành - An Nhơn. Nơi đây có một chợ
nón lớn họp thường ngày từ 3-4 giờ sáng. Cứ
hết một đợt làm được 25-30 chiếc
th́ bà con các vùng phụ cận lại mang nón đến bán
và mua sắm vật liệu cho đợt sau. Mỗi tháng
G̣ Găng có thể cung cấp cho cả nước 50.000
chiếc nón. Gần đây nón G̣ Găng c̣n được
xuất khẩu sang các nước láng giềng như Trung
Quốc, Lào, Cam-pu-chia dưới dạng cải biên cho hợp
với xứ người. Như vậy, từ vùng núi cao
nguyên mưa nguồn gió dữ cho đến các miệt
vườn miền Nam:
Nhớ nón G̣ Găng
Vầng trăng đập đá
Sông dài sóng cả
Người quân tử,
Khăn điều vắt vai..
Đời sống văn
minh, phát triển nhưng nón lá Việt nam vẫn thuần
túy nguyên h́nh của nó. Ở bất cứ nơi đâu, từ
rừng sâu hẻo lánh, trên đồng ruộng mênh mông, dọc
theo sông dài biển cả, đều thấy chiếc nón lá
ngàn đời không đổi thay…