TÌM HIỂU VÕ CỔ TRUYỀN BÌNH ĐỊNH
- Quốc
Trân -
Nguồn gốc và đặc
trưng
Nếu
đến thăm đất Qui Nhơn quê hương của
người anh hùng áo vải Tây Sơn - Nguyễn Huệ, bạn
sẽ có dịp được thưởng thức những
buổi biểu diễn của môn phái võ cổ truyền
Bình Định với những động tác uyển chuyển,
nhanh nhẹn, nhưng cũng đầy khí chất dũng
mãnh, quật cường của các bài quyền, bài binh khí,
đặc biệt là bài quyền Ngọc Trản, bài roi
(côn) Thái Sơn nổi tiếng đã đi vào lịch sử
với câu ca dao:
"Ai về Bình Định
mà coi
Con gái Bình Định bỏ roi đi quyền"
Võ Bình Định phát triển
sâu rộng trong quần chúng không chỉ có "nam nhi" mà
cả "phái yếu" cũng luyện rèn võ nghệ và
đã có sức thu hút mãnh liệt, trở thành món ăn tinh
thần của người dân Bình Định. Đặc
biệt khi có hoạ ngoại xâm thì lập tức mọi
người tập luyện võ nghệ để chiến
đấu chống quân thù. Rõ nét nhất là trong thời Tây
Sơn và trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp xâm
lược, võ cổ truyền Bình Định không những rèn luyện thể lực,
tính dũng cảm cho quân đội và nhân dân, mà còn
được áp dụng khá thành công vào binh pháp, vào phép dùng
binh, vào sách lược, chiến lược quân sự, nhất
là trong cách đánh cận chiến.
Để nghiên cứu làm rõ
nguồn gốc và đặc trưng của võ cổ truyền
Bình Định, một đề tài khoa học đã
được Sở Thể dục - Thể thao Bình Định
tiến hành từ hơn 2 năm nay nhằm sưu tầm,
thu thập những thông tin, tư liệu qua những
người thật, việc thật, qua các địa
danh, chứng tích của các hoạt động võ nghệ ở
nhiều giai đoạn lịch sử rồi từ đó
tổng hợp, phân tích, minh chứng cho một câu hỏi:
Võ cổ truyền Bình Định có đặc điểm khác biệt nào so với
các dòng võ khác?
Từ thế kỷ XV trở
đi, cùng với việc tiến về phía Nam của
người Việt cổ, nhiều dòng họ đã đến
Bình Định khai hoang, lập ấp. Các cư dân đã tiếp
nhận và thích nghi với nhiều yếu tố của nền
văn hoá địa phương, tạo nên tư chất
và cốt cách của con người ở vùng đất mới
Bình Định, nơi hội tụ, kế thừa truyền
thống thượng võ của dân tộc.
Người Bình Định
vừa có phẩm chất cao quí của cư dân vùng đồng
bằng Bắc Trung Bộ, Bắc Bộ với các đức
tính: mộc mạc, cần cù, giản dị, sáng tạo,
nhân ái, kiên cường, dũng cảm, vừa mang sắc
thái của địa phương: tính khảng khái, hào hiệp,
tinh thần thượng võ.
Theo Đại Nam nhất thống chí: Người
Bình Định tính tình trầm, gan dạ, thích làm việc nghĩa. Người học thức
phần nhiều nho nhã, trung hậu.Đồ mặc, đồ
dùng giản dị, mộc mạc,
không ưa văn hoa. Ngày rảnh việc hay bày hát tuồng, múa võ.
Bình Định luôn gợi
trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam niềm cảm
tình sâu sắc về một vùng đất thượng võ
lâu đời, với hồn thiêng sông núi đã hun đúc
nên khí chất anh hùng bất khuất, làm nên bao sự tích
oanh liệt, góp phần tô thắm vào trang sử vàng dân tộc.
Quá
trình hình thành và phát triển
Dựa vào điều kiện
lịch sử, căn cứ vào các tiêu chí: mức độ
qui mô phát triển võ, trình độ võ nghệ, tính chất
giai cấp, mục tiêu phục vụ của võ nghệ
trong từng giai đoạn, đề tài lấy mốc thời
Tây Sơn làm trung tâm vì đây là thời điểm đỉnh
của võ cổ truyền Bình Định.
Trước thời Tây
Sơn (từ khoảng năm 1600),võ cổ truyền
Bình Định còn ở dạng
sơ khai, hình thành chủ yếu dựa trêncác thao tác
lao động và sử dụng
công cụ lao động hàng ngày .
Đến thời Tây Sơn, bắt đầu có sự
giaolưu, hoà nhập giữa các dòng võ và quy tụ nhiều
anh hùng hào kiệt, nhiều võ quan,võ sư nổi tiếng. Võ cổ truyền Bình
Định thời Tây Sơn được sử sách ghi
nhận là thời kỳ hưng thịnh và phát triển rực
rỡ nhất, được xây dựng thành hệ thống
võ học, được đưa vào hệ thống thi cử,
đào tạo tướng sĩ, được nghiên cứu
và áp dụng triệt để, sáng tạo trong quân sự,
trong chiến đấu, phục vụ chiến trường
và khuyến khích mở trường dạy võ khắp
nơi.
Võ cổ truyền Bình Định
thời Tây Sơn là sự kết tinh và hoà quyện cao
độ giữa các dòng võ, môn võ, phái võ khác nhau (của
người bản địa,
võ từ Bắc hà vào v.v.) tạo nên sức mạnh tổng
hợp, chắt lọc tìm ra
cái tinh tuý nhất để bồi đắp, bổ
sung vào kho tàng võ học chân truyền của dân tộc.
Sau thời Tây Sơn, mặc
dù khi lên ngôi, Nguyễn Ánh đã tiêu diệt mọi thành quả
của nhà Tây Sơn nhưng võ cổ truyền Bình Định
vẫn có khả năng tiềm ẩn và sức sống
mãnh liệt, "võ vườn" vẫn được
bí mật
truyền dạy trong các
nhà chùa hoặc các bìa rừng, vẫn được nhiều
người tâm huyết nghiên cứu, sưu tầm, viết
sách lưu truyền lại cho các thế hệ mai sau.
Đến nửa đầu
thế kỷ XIX, các dòng võ nước ngoài, chủ yếu
là võ Thiếu Lâm (Trung Hoa) và nhiều môn võ như quyền
Anh, Judo, Karatedo, Teakwondo... đã phát triển khá mạnh ở
Bình Định nhưng vẫn không thể lấn át
được võ cổ truyền Bình Định bởi vẫn
giữ được những đặc điểm
độc đáo của nó.
Đặc
điểm độc đáo của võ cổ truyền Bình
Định
Về khía cạnh võ thuật,
võ cổ truyền Bình Định thể hiện rõ tính liên
hoàn, tinh tế, uyên thâm, kết hợp nhuần nhuyễn giữa
cương và nhu, giữa công và thủ, giữa mạnh và
yếu, giữa bên trong (tinh, khí, thần) với bên ngoài
cơ thể (thủ, nhãn, chỉ và thân).
Về võ lý, võ cổ truyền
Bình Định vận dụng triệt để học
thuyết âm - dương, lấy phép ngũ hành và phép bát
quái làm nguyên lý cơ bản của
"Song thủ ngũ hành vi bản", "Lưỡng
túc bát bộ vi căn" là cơ sở võ lý cho luyện tập bộ tay và bộ
chân trong võ cổ truyền Bình Định: Tấn pháp trong bát quái và Thủ pháp trong Ngũ
hành, có sự phối hợp cả hai phương diện ngoại công và nội
công.
Về võ đạo, còn gọi
là cái đạo của người học võ. Ngoài những
đức tính mà con người đề cao trong rèn luyện
đạo đức là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, võ
đạo còn thể hiện ở các mặt truyền thống:
thượng võ, chống ngoại xâm; uống nước
nhớ nguồn; trọng nhân nghĩa...
Về nội dung, võ cổ
truyền Bình Định vô cùng phong phú, đa dạng
nhưng tựu trung có 4 nội dung cơ bản là: luyện
công, quyền thuật, võ với binh khí, luyện tinh thần.
Quyền còn gọi là thảo bộ hay quyền tay không, bao
gồm Cương quyền và Nhu quyền. Võ tay không chia
thành 4 nhóm: Võ thể dục, võ
tự vệ, võ tỷ thí và võ chiến đấu. Binh khí
được dùng trong võ cổ
truyền Bình Định bao gồm binh khí dài và binh khí ngắn. Loại binh khí rất
cơ bản được lưu hành khá phổ biến ở
Bình Định là côn (tiếng
địa phương gọi là roi) với nhiều
"phách roi" độc đáo chỉ có ở võ cổ
truyền Bình Định: "Đâm so đũa",
"Đá văn roi", "Phá vây", "Roi đánh nghịch"... Nói
về tận dụng vũ khí thô sơ chống giặc,
Bình Định có "Bài kiếm
12" nổi tiếng gồm 12 động tác được
rút tỉa trong nhiều bài kiếm
tiêu biểu của Bình Định để hình thành một
cách ngắn gọn, dễ tập, dễ nhớ, được
đưa vào luyện tập và thực hành chiến đấu
đạt hiệu quả cao
trong các lực lượng vũ trang và bán vũ trang ở
địa phương.
Trong các bộ môn về quyền
thuật, "Ngọc Trản" là bài quyền tiêu biểu
của võ cổ truyền Bình Định, trải qua thời
gian, nó vẫn sáng chói như một "chén ngọc" với
những bí quyết võ công vô giá. Để thực hành
được một cách nhuần nhuyễn, phải tính
đến công sức luyện tập cả về thể
chất và ý thức nhằm tạo được sự
thống nhất thành một ý niệm duy nhất, như
tính thuần khiết của viên ngọc. Đó chính là bí quyết
khổ luyện của lối quyền âm - dương
trong Ngọc Trản công.
VÕ HỌC
BÌNH ÐỊNH
-Ðào Ðức Chương-
“Mảng vui Hương Thủy, Ngự Bình
Ai vô Bình Ðịnh với
mình thì vô
Chẳng lịch bằng đất kinh đô
Nhưng Bình Định không đồng khô cỏ
cháy
Ba dòng sông chảy
Bảy dãy non cao
Biển Ðông sóng vỗ dạt
dào
Tháp xưa làm bút ghi tiếng anh hào vào mây xanh...”
Câu ca dao trên là bức tranh phác họa miền Ðất Võ, xứ Bình Định. Ðó là miền đất
cách Kinh thành Huế 407 cây số
về phía đông nam, có
ba mặt núi non hiểm trở. Phía tây dựa lưng vào
dãy Trường sơn
trùng điệp, phải qua
đèo An Khê dốc đứng, vượt sông Ba rồi lên đèo Măng giang mới tới được
vùng Tây nguyên. Phía bắc có dãy Thạch tấn nối từ Trường sơn ra tận biển, ngăn
cách hai tỉnh Quảng ngãi và Bình
Định, chỉ còn
thông nhau qua đèo Bình đê. Phía nam có dãy
Bình Định
có hai con sông lớn chắn ngang.
phía bắc là sông Lại
giang, còn gọi là Lại dương, bắt nguồn từ
hai vùng núi An lão và Kim sơn, đổ ra biển
qua cửa An giũ. Phía nam cũng có một sông tương xứng: sông Côn, chia làm ba nhánh chảy
vào đầm Thị nại.
Ngoài ba dãy núi và hai sông chính, Bình Định còn nhiều nhánh núi tẻ ra từ dãy Trường sơn và
có sông La tinh nằm vắt ngang giữa tỉnh. Núi, sông xen kẽ với đồng bằng,
tạo cho miền này một địa hình phức tạp.
Các nhà phong thổ học nhìn cuộc
đất Bình Định
như một cái ngai vàng khổng
lồ.
Với bốn mặt núi sông biển vây
phủ, lại thêm thiên tai bão
lụt thường xuyên,
người dân miền này muốn sinh tồn phải cần thích ứng với miền đất hiểm trở,
đầy bất trắc. Ðấy là nhân tố để cho võ nghệ Bình Định nẩy nở. Rồi
ngành dệt phát triển, nghề chạm cẩn tinh vi, lại có những đặc sản
như bánh tráng, bún Song Thằng, nón Gò Găng, gốm Chợ Gồm, ngói Phú phong... Hải sản Bình
Định thì quá dư dả, cần phải thông ra ngoài, tìm thị trường tiêu
thụ hoặc trao đổi:
Ai về nhắn với nậu nguồn
Măng le gởi xuống, cá chuồn gởi lên
(Ca dao)
Thời trước buôn bán với
"nậu nguồn" là
quan trọng hơn cả.
Lượt lên mang cá khô, mắm, muối. Chuyến về
chở măng le, trầu nguồn,
rễ nài. Vốn một lời
mười. Tổ phụ của Nguyễn Nhạc là Hồ Lang, chuyên nghề buôn bán trầu nguồn. Ðến
thời Hồ Phi Phúc, rồi Nguyễn Nhạc cũng nối nghiệp cha ông. Số người
buôn bán hàng chuyến rất
đông. Chở hàng ra Quảng,
vào Nam, lên Tây nguyên đều có cả. Vì vậy võ nghệ cần được phổ biến và phát huy để hộ
tống hàng hoá vượt đèo, qua sông, vừa chống chỏi với mãnh thú, vừa đề
phòng nạn trộm cướp dọc đường hoặc ngay tại
nhà. Không những đàn ông mà
ngay cả đàn bà, trẻ con cũng phải học võ hộ thân và bảo vệ tài sản, đã
trở thành một truyền thống:
Ai về Bình Định
mà coi
Con gái Bình Định múa
roi, đi quyền
(Ca dao)
Tuy vậy, dòng chảy của Võ học
Bình Định cũng có những
thăng trầm, qua các giai
đoạn sau đây:
THỜI
KỲ MỞ MANG (1470-1558)
Năm Canh Thìn (1470), Hồng Ðức
nguyên niên, vua Chiêm là Trà Toàn đem quân đánh phá đất
Hóa châu, và sai người sang
Tàu cầu viện nhà
Minh. Vua Lê Thánh Tôn tự cầm quân, đem đại
binh 20 vạn quân đánh
Chiêm thành, phá được
kinh đô là thành Ðồ Bàn (Vijara) và
chiếm đất đến đèo Cù mông. Từ đấy, miền
nầy được sát nhập vào đạo Quảng nam, đặt tên là phủ Hoài nhơn gồm ba huyện
là Bồng sơn, Phù ly và Tuy
viễn.
Dân
các tỉnh Bắc kỳ, nhất là người Hà đông và các tỉnh miền bắc Trung phần vào đây lập
nghiệp. Họ đến lấp vào chỗ trống vì có một số người Chiêm thành
đã rút về phía nam. Ðể sinh tồn, họ góp nhóp vốn liếng võ nghệ của cố
hương, pha trộn với các thế võ của người Chiêm, của dã thú, của gà đá... rồi
sửa đổi, sàng lọc,
ứng chế cho hoàn toàn
thích hợp với hoàn cảnh, địa thế của
quê hương mới. Ðầu
tiên, hai thế võ được
thông dụng là lối đánh bằng tay chân gọi là quyền và lốiđánh bằng cây gọi là roi. Họ
dùng khúc cây vừa làm đòn gánh
vừa là vũ khí hộ
thân. Gánh, có thể chịu sức nặng gấp ba lần
trọng lượng của
mang xách mà vẫn đi
được xa. Ðòn gánh làm bằng gốc tre già, vừa chắc vừa dẻo, tiện cả hai mặt: gánh thì
êm vì đòn nhún theo nhịp đi;
đánh lại bền vì
cây roi không bị gãy hay giập bể. Ðó là những
năm tháng dài, hình thành một nền võ thuật mới
mẻ, độc đáo, được cả nước quen gọi là võ Bình Định.
THỜI
KỲ PHÁT TRIỂN (1558-1771)
Từ cuối năm Mậu Ngọ
(1558), Nguyễn Hoàng vào trấn
thủ Thuận hoá, lập
nên xứ Nam Hà, cho đến năm Tân Mão (1771) Tây Sơn khởi nghĩa. Trong ngót hai thế kỷ, võ Bình
Định đã tiến một bước dài, phát triển đầy đủ các môn binh
khí và đi vào nề nếp. Sự kiện chàng Lía xảy ra trong thời kỳ này còn lưu lại
một bài vè dài 1336 câu, chia làm
6 đoạn, đã phản
ánh phần nào tình trạng võ nghệ ở Bình Định lúc bấy giờ. Kết hợp nội dung
bài vè và lời truyền tụng
của dân chúng về cuộc
đời của Liá, nhân vật tiếng tăm ấy có
tên thật là Võ Văn Ðoan,
nhưng người đời quen gọi thân mật
là chú Lía, quê nội ở huyện
Phù ly nay là Phù mỹ, cha mất
sớm, Lía theo mẹ về quê ngoại tại làng Phú lạc, tổng Thời hòa, huyện Tuy
viễn, sau là thôn Phú lạc, xã
Bình thành, quận Bình khê
(nay đổi huyện Tây Sơn). Nhà nghèo, mẹ thường đau yếu, Liá lại còn nhỏ không làm ra tiền để
nuôi mẹ. Nhiều lần Lía
đến các nhà phú hộ
xin bát cơm thừa hay xin được họ thuê
mướn, nhưng bị từ
chối và còn bị mắng
nhiếc thậm tệ. Lía tự nhủ: "Dốc lòng cố
giữ lòng thành, Mà trời chẳng giúp phải đành lòng
tham" (vè chú Lía) nhỏ nhặt
sắn khoai để cứu
sống mẹ qua cơn ngặt nghèo. Một hôm, Lía vào trộm
gà vịt của một nhà
phú hộ, bị bắt qủa
tang, họ trói và đánh đập tàn nhẫn trước
khi giải cho hương chức
để chịu một trận
đòn thừa chết thiếu sống khác. Từ đấy Lía nuôi trong lòng mối hận thù kẻ giàu có và
bọn cường hào ác bá.
Có một hương sư, thương cho tình cảnh của Lía, bèn mướn
chăn trâu. Ngày ngày Lía thả
trâu ăn cỏ trên các sườn đồi. Nhân có các võ sư thường đem môn sinh đến
mé núi dạy võ, Lía ghé mắt
học lóm và tiếp thu
rất nhanh, thấy đâu nhớ đó. Nhờ có sức
mạnh phi thường, thêm
năng khiếu về võ nghệ,
lại thông minh sáng tạo, một hôm thấy con cá lóc nhảy từ dưới thấp lên ruộng
cao, Lía học được ngay:
Lía ta thấy vậy tức cười Khen con cá lóc vô hồi tài ba Chớ chi cá lóc dạy ta Học theo miếng đó, thiệt
là mang ơn và chịu khó tập
luyện thành thạo: Nhảy
cao như Lía thiệt tài Nóc
nhà nhảy khỏi ai ai cũng nhường
Từ ấy bọn chăn trâu trong vùng
tôn Lía làm "vua", chỉ
có thằng Mướp không chịu
phục, muốn đấu võ với Lía, ai thắng mới chính thức lên ngôi vị: Mướp ta cầm một khúc
cây Ðánh nam đỡ bắc
múa may loạn trào Nhưng hắn
không đủ sức chống đỡ ngọn roi khốc
liệt Ðường côn toàn vẹn
trăm bề Múa lên giông tố
tiếng nghe vù vù nên Lía đã lỡ
tay đập vỡ đầu thằng Mướp chết
ngay tại chỗ.
Lía hoảng sợ, bỏ vào rừng trốn
biệt. Bọn lục lâm từng
nghe danh Lía, bèn mời về
sơn trại. Sau đó Lía cầm đầu một đảng cướp nổi tiếng. Nhưng Lía chỉ
đánh cướp những nhà giàu có mà gian ác hay những nhà của bọn tham quan ô lại.
Nếu chủ nhà biết điều, nộp tiền của và không chống cự, Lía chỉ lấy
hai phần ba của cải, một phần để lại cho chủ. Tài sản cướp
được, Lía đem về sơn trại một nửa, nửa kia phân phát cho dân nghèo trong vùng. Lía cấm
đàn em không được sách
nhiễu dân chúng, cấm
chận đường cướp giật bừa bãi hoặc
thu tiền mãi lộ. Ðối
với bọn cường
hào có thành tích hà hiếp dân đen, Lía cho thủ hạ trừng trị làm gương. Nhờ thế tuy
là tướng cướp, Lía vẫn được dân chúng ủng hộ và che giấu. Chính quyền địa
phương tuy tốn nhiều thì giờ và công sức mà vẫn không dẹp được
đảng cướp của Lía. Các nhà giàu trong tỉnh lo sợ, bèn mướn võ sư canh giữ
tài sản và tập luyện võ nghệ cho gia nhân, tạo cho tỉnh nhà một số
đông người rành võ nghệ và gây thành phong trào học võ.
Nhưng rồi Lía cũng chán đời
thảo khấu, nhất là biết
được mẹ già qua
đời vì buồn phiền về Lía, Lía buồn bã giã từ sơn trại ở vùng Phú Phong huyện Bình khê, đi vềmạn
bắc định tìm đến
một nơi xa lạ,
sống đời lương thiện. Thế
nhưng, việc võ nghệ là
nghiệp chướng đeo đuổi mãi. Trên đường ra Quảng
ngãi, Lía phải qua Truông Mây dài
độ vài cây số, hai bên
mây rừng bao phủ dày đặc. Truông Mây, còn gọi là Hóc Sấu, nằm trên hai thôn, đầu bắc
là Phú thuận, đầu nam là
Vĩnh hòa, thuộc Tổng
Hạ, huyện Bồng sơn phủ Hoài nhơn (còn có tên
là phủ Qui Nhơn và Qui ninh), nay thuộc xã Ân đức,
huyện Hoài ân, tỉnh Bình
Định. Ðịa thế
Truông Mây rất hiểm trở, phía đông và đông
nam gặp nhánh sông Kim
sơn chảy từ nam ra bắc, quanh năm
nước xanh lè như màu lá,
phía tây núi non trùng điệp
và có hòn Núi Một tách ra, sừng sững như chiếc bình phong. Nơi đây Lía bị một bọn
cướp chặn đường nên phải ra tay. Hàng chục tên cướp ngã gục. Chúng hoảng
sợ, vội phi báo với chủ trại là cha Hồ và chú Nhẫn. Lại một phen Lía phải
tỉ thí với hai tên đầu
sỏ toán cướp: Cự
đương một đánh với hai Tả xung hữu đột bụi
bay mù trời Gặp ngọn
roi thần của Lía, bọn chúng phải bái phục: Lía càng sung sức hoành hành Cha Hồ chú Nhẫn thất kinh
đuối rồi Và rước về sơn trại
rồi nhường chức thủ lãnh cho Lía.
Trong thời kỳ này đã có những
cao thủ thuộc giới nữ
lưu: Mụ Mân khoảng
độ bốn hai Làu thông
võ nghệ ít ai sánh bì Ðến nỗi
trình độ võ như cha Hồ chú Nhẫn hiệp sức lại vẫn không thắng nổi:
Phút thôi Hồ, Nhẫn cả hai Ðuối tay kéo chạy như bay
khác nào Nhưng khi gặp
đường roi của Lía, mụ Mân không thể áp đảo được: Lía ta bình tĩnh đối
đang Mụ Mân tuy giỏi
khó toan vẫy vùng Rồi Lía
dùng độc chiêu để hạ địch thủ: Cầm chừng mụ đánh một
hồi Lía gạt đao gãy,
đá bồi một chân
Và cũng từ ngày được tôn
làm chủ soái Truông Mây, Lía
đã ra lệnh cho thủ hạ
phải triệt để áp dụng tôn chỉ của mình. Truông Mây không còn là chỗ cướp bóc bừa
bãi khách bộ hành nữa mà
trái lại còn bảo vệ
người qua đường khỏi bị ác thú hãm hại.
Nhờ vậy đảng
cướp được dân
chúng có cảm tình, được nhiều người
gia nhập và tiếng đồn
về Lía vang dội khắp
vùng: Lía ta nổi tiếng anh
hào Sơn hà một góc thiếu
nào người hay Bạc tiền
thừa đủ một hai
Chiêu binh mãi mã càng ngày càng đông Làm cho bốn biển anh hùng Mến danh đều tới phục
tùng chân tay Mục tiêu đánh
cướp của Lía nhằm vào những: Kẻ nào tàn ác lâu nay Lía sai cướp của đoạt
tài chẳng dung Nhà giàu mấy
tỉnh trong vùng Thảy
đều kinh sợ vô cùng lo toan
Nhất nhì những bậc nhà quan Nghe chàng Lía dọa kinh hoàng
như điên Nhà nào nhiều
bạc dư tiền Mà vô ân
đức, Lía đều đoạt thâu
Có binh hùng tướng mạnh, Lía cho sửa
sang sơn trại thành đồn lũy, luyện tập đàn em
thành thạo các môn quyền, roi,
đao, kiếm, siêu,
thương, cung, ná... Lía
nay ở chốn sơn trung
Ngày đêm luyện tập ung dung chén nồng
Từ một đảng cướp,
Lía đã tạo thành một lực
lượng vũ trang có tổ
chức, biết tự túc tự cường: Lâu la mấy vạn tụ
đông Võ rừng làm rẫy
vun trồng bắp khoai Triều
đình phái một đội quân đông đảo đến
đánh dẹp Truyền cho mười vạn
binh hùng Dưới cờ
đại tướng binh nhung lên đàng Lía đã đón quan binh bằng chiến
thuật bất ngờ, nhanh
như một đường roi bí hiểm: Lâu la kén đủ năm ngàn Thình lình cướp trại
đánh ngang quân trào... Ðại
tướng thoát trận thoát nàn
Về trào chịu tội mất thành binh tan
Lần này, không thể xem thường
Lía như đám giặc cỏ,
triều đình phải cử
một tướng lĩnh tài ba:
Ðô đốc võ nghệ vẹn toàn Quân binh hùng dũng chiến tràng
đua tranh Lía bèn giục ngựa
ra thành Quyết cùng đô
đốc giao tranh so tài Ðôi
bên xáp chiến cả ngày Bất
phân thắng bại khen thay anh hào
Nhưng rồi Lía không làm sao giữ nổi thành trong
thời gia dài: Tính toan thành khó giữ nào Bởi chưng quân ít không sao chống
kình Lía ngầm muốn tính bỏ
thành Ngặt vì binh tướng
trào đình phủ vây Lía đã
dùng ngón võ tuyệt vời để thoát thân: Cơn nguy chuyển hết sức
thần Dùng miếng "cá
lóc" giậm chân nhảy liền Quân trào vây kín khắp miền Lía vọt ra khỏi rất nên kỳ
tài
Trên đây là những câu trích trong vè
Chú Lía cho thấy võ học Bình Định ở thời kỳ
này đã thịnh hành và đóng vai
trò then chốt trong chiến
đấu.
Chàng Lía là một Robin Hood của Bình Định. Triều đình
đã dẹp yên đảng
cướp ở Truông Mây, nhưng tình cảm của
dân chúng đối với
chú Lía mãi mãi đi vào văn học: Chiều chiều én liệng Truông
Mây Cảm thương chú Lía
bị vây trong thành
THỜI
KỲ CỰC THỊNH (1771-1802)
Từ năm Tân Mão (1771), Nguyễn Nhạc
dựng cờ khởi nghĩa
ở Gò Tô đất Tây
sơn đến năm Nhâm Tuất (1802), vua Quang Toản bị bắt ở huyện Phượng nhãn tỉnh Bắc
ninh, nền võ học Bình Định mở ra một kỷ nguyên mới. Ðó là võ Tây Sơn.
Tam kiệt Tây Sơn gồm Nguyễn Nhạc
(?-1793) anh cả, Nguyễn Huệ (1753-1792) anh thứ, và Nguyễn Lữ
(?-1788) em trai út, người
làng Kiên mỹ đất
Tây sơn, sau này là thôn Kiên mỹ, xã Bình thành, huyện Bình khê (nay đổi huyện Tây
sơn).
Họ Nguyễn Tây Sơn nguyên là họ
Hồ, dòng dõi Hồ Qúy Ly. Ông
tổ bốn đời là Hồ
Phi Khanh ở huyện Hưng nguyên tỉnh Nghệ an. Năm Ất Tỵ (1655), Trịnh Nguyễn giao tranh
lần thứ năm, quân Nguyễn tấn công Nghệ an. Hồ Phi Khanh cùng một số
dân chúng bị quân Nguyễn bắt
đem vào phủ Qui ninh huyện
Tuy viễn để khai hoang. Ông đến ở làng Bằng châu (nay thuộc xã Ðập Ðá huyện An
nhơn) được họ Ðinh đỡ đầu, gây dựng. Ðời
con là Hồ Lang, dời về
làng Phú lạc xã Bình thành. Ðời
cháu là Hồ Phi Phúc, dời
qua làng kế cận là Kiên mỹ. Nơi đây, ba anh em Tây Sơn ra đời, trước theo họ cha, sau
đổi ra họ mẹ là họ Nguyễn.
Lúc nhỏ, anh em Tây Sơn được
học chữ Hán với thầy
giáo Hiến, một bậc
tài danh bất mãn vì chế độ thối nát, nạn Trương Phúc Loan chuyên quyền, tham tàn. Sau đó,
anh em Tây sơn học võ với
võ sư Ðinh Văn.
Nhưng thường gọi là ông Chảng, người
làng Bằng châu. Thầy võ
là người bộc trực,
gan dạ và ngang ngạnh nhất vùng, chẳng hề kiêng nể bọn cầm quyền. Ông tự phong
"Chảng chảng ngang thiên". Câu ví von của người đương thời "Ngang
quá ông Chảng" nay đã trở thành tục ngữ. Ba anh em được thầy yêu qúy, dạy
cho nhiều thế võ bí truyền.
Thấy được sự lợi hại của võ Bình Định, tam kiệt
Tây Sơn đã đem võ thuật
vào chiến thuật
trong cuộc khởi nghĩa và phát huy võ học Bình
Định đến mức
cực thịnh.
Trong binh đội Tây Sơn, mỗi chiến
sĩ là một võ sĩ. Sự
huấn luyện quân đội,
cơ bản là tập võ nghệ. Người lính phải biết sử dụng tất cả, hoặc một số các
binh khí truyền thống sau đây:
1.- Quyền: lối đánh võ bằng
tay chân, còn gọi là thảo bộ.
Quyền gồm nhiều thảo
bộ, chẳng hạn như : thảo bộ Phượng
Hoàng, Tứ Hải, Thiền
Sư, Ngọc Trản, Thần
Ðồng, Lão Mai, Ðộc Thọ... Hễ quyền giỏi thì roi cũng giỏi. Vì vậy quyền là môn
võ tối cần. Quân Tây Sơn
đã dùng chiến pháp sở
trường này trong khi xung phong giáp lá cà, thanh toán chiến trường.
2.- Roi: lối đánh võ bằng gậy,
còn gọi là côn. Roi không nên lớn
quá hoặc nhỏ quá, phải
vừa cỡ tay nắm người sử dụng thì đường roi mới mạnh và nhanh. Có hai loại: roi trường
và roi đoản. Roi trường
là roi trận, dài khoảng
2,50 mét, đầu lớn là đốc roi, đầu nhỏ
là ngọn roi. Người sử dụng roi trường ngồi
trên ngựa và chỉ đánh một đầu. Roi đoản là roi đấu, dài "tề mi"
tức là ngang lông mày người sử dụng (chừng 1,60 mét). Roi đấu cầm ở giữa
thân roi nên có thể đánh cả hai đầu. Chẳng hạn đầu roi bổ xuống như trời
giáng khiến đối thủ lo chống đỡ nhưng đó chỉ
là cú đánh hư. Trong lúc ấy,
nhanh như chớp đốc roi thúc mạnh vào hạ thế đối thủ, đó mới
là cú đánh thực. Ngày xưa, các võ sĩ thường vắt vai một khăn lông to và dài, gặp khi bất
trắc, có thể dùng khăn
thế roi, gọi là roi
nhuyễn tiên, không phải là để đánh mà để
"vung roi" che mắt
đối thủ rồi xông
vào hất tung binh khí.
3.- Song sĩ: hai cây gỗ cứng kẹp
dọc cẳng tay, ló ra ở
hai đầu. Khi đấm
hay thúc cùi chỏ thì đầu nào của song sĩ cũng
có thể ấn sâu vào cơ
thể của đối thủ.
4.- Ðao: để chém và đâm. Nếu
đao có lưỡi bè ra rất
lớn thì gọi là đại đao.
5.- Kiếm: gồm độc kiếm
và song kiếm, lưỡi dài nhưng không quá 1 mét.
6.- Siêu: giống như đao, nhưng
cán dài. Thế võ kết hợp
giữa kiếm và roi.
7.- Thương, giáo, mác, lao đều
có cán dài, dùng để đâm,
đánh và phóng.
8.- Xà mâu, đinh ba, bừa cào đều
có cán dài nhưng đầu có
nhiều nhánh, đường
võ chậm chạp, ít thông dụng.
9.- Lăng, khiên: tròn dẹp, có tay nắm
ở tâm điểm; dùng
để che đỡ khi
lâm trận.
10.- song chùy: hình cầu bầu dục, xẻ
răng cưa như
cạnh khế, có cán nắm, dùng để đánh, cũng ít sử
dụng.
11.- Dây xích bằng sắt dùng để
quất, lợi thế như một cây roi.
12.- Cung, ná, nỏ dùng để bắn
tên khi đối thủ còn ở
xa.
Một
đặc điểm của võ Tây Sơn là mỗi thế võ đều có bài thiệu
đi kèm, tức là phần lý
thuyết được diễn thành thơ có vần, có điệu cho dễ đọc, dễ nhớ. Người
học võ, phải thuộc lòng bài
thiệu, đọc đến đâu múa đến đó, lý thuyết
ăn khớp với thực hành. Lối học võ này rất tiện cho việc luyện tập nhiều
người cùng một lúc, được áp dụng trong trường huấn luyện quân đội của
Tây Sơn.
Thời ấy còn sáng chế ra điệu
trống trận Tây Sơn.
Người đánh, cùng một
lúc sử dụng nhiều trống, tối đa 12 cái,
và phải dùng thế võ côn quyền mới đánh
được. Ðánh bằng dùi cả hai đầu, gọi là roi trống, vừa
đánh cả hai bàn tay, cổ tay, cùi chỏ, vai... làm
cho tiếng trống phát ra những âm thanh khác nhau, nghe
rất hùng tráng. Lúc ra trận, dùng hai trống lớn, đánh
theo võ nhạc trận, âm thanh vang
xa, dồn dập, khích
động.
Chiến thuật của Tây Sơn là áp
đảo đối
phương từ tầm xa đến tầm gần. Xa thì có đại
bác đặt trên mình voi. Khi cách
mục tiêu chừng 100
mét thì dùng súng trường. Gần thì đến lượt
cung nỏ, rồi hỏa hổ. Cuối cùng là xung phong cận chiến,
dùng các thế võ để giải
quyết chiến trường
theo nguyên tắc "nhất nhân địch quần
nhân". Như vậy,
đội quân Tây Sơn không cần đông mà cốt ở tinh và dũng cảm. Binh đội gọn
nhẹ, di chuyển nhanh chóng, thích
hợp với lối tác
chiến thần tốc. Ðánh nhanh đánh mạnh, hư thực không rõ, bất ngờ thọc sâu vào kẽ hở của
địch quân. Chiếm mục tiêu thì dùng tượng binh làm lá chắn, vừa là pháo
đài di động cho bộ binh tiến lên. Ðó là kỹ thuật tác chiến của Tây
Sơn, ảnh hưởng bởi bản chất con nhà võ. Tương truyền các
tướng Tây Sơn đều là những tay võ xuất chúng. Nguyễn Huệ sở
trường về roi. Nguyễn Lữ xuất sắc về côn quyền,
đã sáng chế ra Hùng Kê quyền,
lấy từ các thế võ của gà đá. Võ Văn Dũng rất giỏi về đao, người
đời có câu truyền tụng
Phá sơn trung tặc, dị
Thắng Văn Dũng đao, nan
(Phá được giặc trong núi thì dễ, thắng
được ngọn
đao của Văn Dũng thì khó)
Ðặng
Văn Long (có sách chép là Mưu) lại quán thông cả cương quyền (ngạnh công) lẫn
miên quyền (nhuyễn công) với
đôi tay mạnh và cứng
như sắt nên người đời thường gọi
là Ðặng thiết tí. Bùi Thị
Xuân thì không ai bì kịp về
môn kiếm. Tóm lại,
võ Tây sơn là võ truyền thống
của Bình Định đã được tập hợp và tinh luyện
để đưa vào quốc phòng. Võ trở thành chiến lược độc đáo của Tây
Sơn, thời huy hoàng nhất của võ học Bình Định.
THỜI
KỲ ẨN MÌNH (1802-1867)
Năm Nhâm
Tuất (1802), Nguyễn Ánh dẹp nhà Tây Sơn và lên ngôi vua, xưng đế hiệu là
Gia Long. Không những nhà vua trả
thù dã man đối với Tây Sơn mà còn có cả một
kế sách lâu dài, nhằm tận
diệt tất cả những
gì có liên quan đến Tây Sơn. Vì vậy võ Tây Sơn không còn được lưu hành nữa. Các nhà võ rút lui vào bóng
tối, chỉ âm thầm truyền
dạy cho con cháu. Các bài thiệu
cũng phải dấu trong trí nhớ và chỉ truyền miệng trong phạm vi gia đình. Ðiệu
trống Tây Sơn im bặt trong
những ngày lễ hội
đông người. Thời kỳ này kéo dài suốt các triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và đầu
đời Tự Ðức. Vì thế nền võ học Tây
Sơn đã bị thời gian
làm mai một rất nhiều.
THỜI
KỲ TRUNG HƯNG (1867-1924)
Từ khi vua Tự Ðức lên ngôi (1847),
quân Pháp luôn luôn tìm cách gây hấn với nước
ta để có cớ xâm chiếm. Năm 1858, liên quân Pháp và Tây ban nha đánh chiếm bán
đảo
Sơn trà, Ðà nẵng. Năm
1859, thành Gia định thất
thủ. Năm 1861, mất Ðịnh tường (Mỹ
tho), đảo Côn lôn và
Biên hòa. Năm 1867, Pháp chiếm
nốt ba tỉnh miền Tây
Trước tình thế khẩn
trương, cần tăng
cường quân đội để bảo vệ những phần đất còn lại.
Ðối với Tự Ðức, đề phòng Tây Sơn không còn là việc thiết thực nhưng
họa xâm lăng của Pháp thì sờ sờ trước mắt. Vì thế năm 1867, nhà vua cho thành lập
trung tâm tuyển chọn võ quan
ngay trên miền đất
võ. Ðó là trường thi
Hương võ Bình Định
tại thôn An thành, tổng
Thời đôn, huyện Tuy viễn phủ An nhơn, nay là
thôn An thành xã Nhơn lộc huyện An nhơn và chỉ
cách trường thi Hương Văn (tại Hòa nghi, xã Nhơn hòa) vài cây số xuyên qua
các thôn Trường cửu, Quang
châu dọc theo hữu ngạn
nam phái sông Côn.
Vốn sẵn truyền thống yêu
thích võ nghệ, nay được
nhà vua mở trường thi,
tuyển chọn nhân tài, các mạch võ ẩn tàng hơn sáu mươi lăm năm qua, giờ đây bùng lên trổ
hoa kết trái. Các lò võ ở
Bình Định mọc lên
như nấm. Những đêm trăng, trong sân nhà hay trên
dãy gò hoang vắng, tốp năm tốp ba, võ sinh miệt
mài tập luyện. Rồi
kinh đô thất thủ (1885), vua Hàm Nghi bôn đào và xuống chiếu Cần vương. Võ
Bình Định đã góp phần vào việc chống Pháp. Lãnh tụ phong trào Cần vương ở
Bình Định, anh hùng Mai Xuân
Thưởng, là một
người văn võ song toàn. Trong bài Ðiếu Mai Nguyên
Súy (soái) tức Mai Xuân Thưởng, Nguyễn Bá
Huân, một danh sĩ đương thời, đã hết lòng khâm phục:
Ðan tâm chỉ vị cứu lương dân Hoành sóc ngâm thi hữu kỹ
nhân Nhất phó hung khâm hoành vũ
trụ Tam niên cầm kiếm
định phong
trần... Tống Phước Hổ dịch: Lòng son chỉ muốn cứu
lương dân Vung giáo, ngâm
thi mấy kẻ bằng Một
tấm lòng trung trùm vũ trụ
Ba năm đàn kiếm sạch phong trần Dưới cờ khởi
nghĩa của Mai nguyên soái, ở
Bình khê có một dòng võ mà cả
ba thế hệ gồm hàng trăm võ sĩ, võ sinh đã theo thầy đứng trong hàng ngũ nghĩa quân. Ðó là
lò võ Lê Thượng Nghĩa,
sư tổ của Hồ Tá
Quốc. Hồ Tá Quốc đã ca tụng tay kiếm
lợi hại của thầy
trong việc cứu nước,
qua bài tặng Lê công Thượng Nghĩa: Lão sư thân thủ nhược
du long Lẫm liệt tu mi khí
lực hùng Tích nhật Cần
vương đồng tá quốc
Tây trù trảm tận hiển hùng phong Ðào Văn dịch: Nhớ thầy dáng tựa rồng
bay Ðường gươm
nhát kiếm râu mày xứng danh
Theo vua vì nước quên mình
Dẹp tan lũ giặc đinh ninh lời nguyền Trong bài Trường Úc
sơn quan đại chiến
hậu, hựu đại thắng ư Cẩm Văn thôn hữu cảm
(cảm xúc sau khi đánh lớn trên ải Trường úc, lại thắng lớn ở thôn Cẩm
văn), sư tổ Lê Thượng Nghĩa cũng đã nói rõ, thắng lớn là nhờ áp dụng võ thuật
vào chiến thuật: Binh nhung
hào kiệt vũ Ngô câu Xung
đột trùng vây trảm tặc đầu Trường úc, Cẩm văn tề
báo tiệp Nghĩa binh thanh
giá chấn toàn châu Việt Thao
dịch: Diệt thù, hào kiệt
múa gươm thiêng Xông phá
vòng vây chém giặc liền
Trường úc, Cẩm văn đều thắng lớn Nghĩa quân lừng lẫy khắp
trong miền
Tướng Ðặng Ðề, cũng người quận Bình khê (tức huyện Tây sơn), một tay võ nghệ nổi tiếng, đã chỉ huy mặt trận Thủ thiện, cho quân xung phong cận chiến, có trống trận yểm trợ tinh thần y như đạo quân Tây Sơn ngày trước, ông viết: Thủ thiện thôn trung bề cổ động Nghĩa binh phấn dũng vũ đao thương... Việt Thao dịch: Thủ thiện, trong thôn trống trận rền Nghĩa quân dũng cảm giáo vung lên Năm 1908, làng võ Bình Định lại một lần nữa góp phần chống Pháp trong phong trào Kháng thuế tại tỉnh nhà. Các võ sĩ ở An Vinh và An thái tham gia rất đông. Họ lãnh trách nhiệm trừng trị bọn tay sai của Pháp và những tên thổ hào dựa vào giặc để nhiễu hại dân lành. Căn cứ vào các châu bản triều Duy Tân trong quyển Phong Trào Kháng Thuế Miền Trung năm 1908 của Nguyễn Thế Anh (xuất bản tại Sài gòn năm 1973) thì ở huyện Bình khê có Hà Khuê, Hồ Cường, Lê Lý, Lê Hữu, Lê Thức, Võ Nghiệp... đã lùng kiếm các viên chức đắc lực của chính phủ Bảo hộ để trừng trị, tiêu biểu có tên Vinh và Giao bị nịch sát. Ở vùng An Vinh (Bình Khê) và An thái (huyện Tuy viễn) có Nguyễn văn Khải lý trưởng An Vinh, đã chỉ huy toán bắt cóc bọn tay sai cho giặc, tiêu biểu có tên Uẩn đền tội, xác thả trôi sông. Ở huyện Phù cát có Nguyễn Hoành đã tổ chức ám sát hai tên gian ác là Bá và Tường do phủ phái tới. Ở huyện Bồng sơn có Ðỗ Dương, Nguyễn Ðiềm, Phạm Quế, Phan Thuần đem thủ hạ khoảng 50 người cầm đao côn đến huyện đường kháng cự với lực lượng đàn áp. Ngoài ra, toán võ sĩ còn thi hành bản án tử hình đối với thường dân đã tham tiền làm do thám hay chỉ điểm cho giặc, như trường hợp nịch sát tên thợ Cẩn để làm gương. Khoảng năm 1920, cả hai tỉnh Bình Định và Phú yên mất ăn mất ngủ vì nạn cướp Dư Ðành. Võ sĩ các phủ, huyện Bình khê, An nhơn, Tuy Phước, Phù cát được quan tỉnh điều động vào việc bắt cướp. Dư Ðành người làng Kiên ngãi, xã Bình thành huyện Bình khê, giỏi võ nghệ và có sức mạnh phi thường. Hắn có thể kẹp nách một con bò nghé, nhẹ nhàng như bồng một đứa bé. Người đương thời ví Dư Ðành "sức đương Hạng Võ, mạnh kình Trương Phi". Dư Ðành cầm đầu một toán cướp 11 tên. Hựu (quân sư), Phỉ, Cao, Ðen... toàn là những tên cướp tên tuổi. Chỉ có tay roi Hồ Ngạnh ở Thuận truyền là Dư Ðành né tránh, còn Bảy Lụt cũng là một tay quyền nổi tiếng ở An Vinh, bị D