Ăn
cơm mới, nói chuyện cũ
Ở
đồng quê, thế mà lắm chuyện
Phi Vân
__________________________________________________________________________
’’Đồng Quê ’’, tác phẩm của Phi Vân (1) gồm 2 phần: 12 bài phóng sự ngắn và phóng sự tiểu thuyết ’’Dưới đồng sâu ’’.
Tác phẩm được giải nhứt cuộc thi văn chương của Hội Khuyến Học Cần Thơ năm 1943. (2). Lúc đó, Phi Vân 26 tuổi. Tuy chỉ là giải thưởng của một địa phương, một khu vực, nhưng ảnh hưởng và giá trị của tác phẩm đă vượt khỏi không gian và thời gian. Sức thu hút lạ kỳ của tác phẩm chính là ở chỗ, từ những ghi chép, có thật, sống thật ở một vùng tận cùng phía nam Tổ quốc: Cà Mau-Bạc Liêu những năm đầu thế kỷ 20 mà trong toàn thiên phóng sự, có lần đề cập đến một câu chuyện vào ‘’năm một ngàn chín trăm ba mươi ba ‘’.
Cho nên ăn cơm mới, nói chuyện cũ là vậy. Nhất là đang ở hải ngoại gần mười năm đầu của thiên niên kỷ thứ ba mà nhắc lại Đồng Quê của Phi Vân, giống như ‘’đem chuyện trăm năm trở lại bàn’’, không biết có cổ lổ sĩ quá không?
Nhưng đọc
trong Đồng Quê, có câu Phi Vân viết :
‘’Đó là...ai ḱa, chớ tôi, tôi
là một kẻ từng lượm mót từ hột ngọc
trời, từng cắm từng cọng lúa, có bao giờ
tôi đang tay bứt cả cội nguồn.’’
Đọc đến mà bàng hoàng, tuy trong tác phẩm , đó chỉ là suy nghĩ của một anh đi câu cá lén.
Như lời tác giả mở đầu thiên phóng sự:
‘’Đây là những bài báo. Bởi thế cách hành văn cũng như nội dung đều có tính cách ‘’nhật tŕnh’’...lối văn gần như cẩu thả...câu chuyện có vẻ nhất thời...
H́nh ảnh
những nhân vật trong chuyện-những người
đă cùng tôi sống chung-ngày nay đă mờ trong kư ức.
Kể lại một quăng đời
phải chăng là sống lại với ngày qua? Có lẽ thế.
Nhưng tôi muốn xa hơn: vẽ một bức tranh phong
tục và tập quán’’.
Đọc lại
Đồng Quê, chúng ta thấy lối văn chơn chất
miền
Nói về phong tục, tập quán, trước là nói về sinh hoạt cơ bản của người dân Cà Mau-Bạc Liêu thời đó. Lao động nông nghiệp giữa thiên nhiên khắc nghiệt nhưng họ vẫn không nhụt chí. Họ là ai? Có thể nói là những người tận cùng, dưới đáy xă hội đang mưu sinh trên một vùng đất hẻo lánh, xa xôi của Tổ quốc. Họ chấp nhận số phận và đem mồ hôi lao động đổi lấy miếng cơm. Họ vẫn có những rung động của con người b́nh thường, biết thương yêu, biết cảm xúc trước thiên nhiên, ấp ủ những ước mơ, mà từ đó, đă góp phần tiếp nối h́nh thành ḍng văn học dân gian Nam bộ, ḍng văn học văn minh sông nước qua các điệu ḥ, câu hát. André Gide có ‘’ Symphonie pastorale’’ th́ Phi Vân cũng có ‘’Khúc nhạc đồng quê’’:
‘’Tôi chồm ra ngoài nh́n cảnh vắng. Bên vàm, hàng dừa nước âm -u lâu lâu thấy le-lói một ánh đèn; bên bờ kia thỉnh -thoảng nghe tiếng chày giă gạo, tiếng chó sủa đêm. Đêm nay chỉ có vành trăng hai mươi, nhưng sao đầy trời góp ánh sáng lại làm cho cảnh vật thêm ảo- huyền thơ mộng.’’ (Tiếng ḥ trong đêm vắng)
Cuộc sống trên sông nước, gắn bó với thiên nhiên ruộng đồng là nền tảng sinh hoạt của cư dân Cà Mau. Cảm xúc trong sáng, dịu dàng trong nỗi vỗ về an ủi của thiên nhiên đă giúp họ quên đi lao công khổ trí:
‘’Thả câu xong, tôi nằm trên sạp,
chờ tới giác đi thăm cá.
Đêm ấy không trăng. Muôn ngàn con mắt long lanh trên nền
trời đen thẫm. Cánh đồng lặng ngủ trong
ánh sáng mờ-mờ. Gió thoảng từng hồi, từng hồi
ngọn lúa cựa ḿnh xào-xạc. Tiếng giạt-sành
vang lên trong im lặng xa-xa. Tôi cảm thấy bồi hồi
tưởng nhớ đâu đâu, rồi nhẹ-nhàng, rồi
khoan khoái, tôi rung đùi ca’’.(Dưới
đồng sâu).
Hăy quên đi ánh sáng đèn điện, các phương tiện giao thông như xe đạp, xe gắn máy, xe hơi và những xa lộ cao tốc...Quên hết đi các phương tiện văn minh vật chất hiện đang vây phủ quanh ta để đọc Đồng Quê. Họa hoằn lắm trong hôn lễ, trong giỗ quải kéo dần đến đêm hôm, mới có ‘’đèn tọa đăng’’ hay ‘’đèn măng-sông’’, c̣n không th́ chỉ bó lá dừa khô làm đuốc. Đi lại giữa các vùng sông rạch, xẻo, trấp...từ nhà ra ruộng, thăm đồng chủ yếu là...đi bộ, chèo ghe, chống xuồng. Đó là h́nh ảnh sinh hoạt của nông dân Cà Mau trong phóng sự của Phi Vân. Nhưng không v́ thế mà sinh hoạt của họ trở nên bùn lầy nườc đọng, khi họ đă chấp nhận sống chết trên vùng đất đă phải chọn để mưu sinh. Không đi sâu vào cuộc sống của họ, không sống và lớn lên nơi đó, khó mà thấu hiểu được t́nh cảnh và tâm hồn của họ:
‘’Năm nay ở sân ông Chủ nhộn-nhịp
lắm. Tá
điền đập lúa ngày lẫn đêm. Ban
đêm, nhứt là những đêm trăng tỏ, không thiếu
mặt người nào ở sân lúa. Làm việc dưới
ánh trăng đă ít nhọc lại không tốn đèn đuốc...
Trong những lúc ấy, họ nói
chuyện tiếu lâm, chuyện ma, chuyện quỷ, chuyện
đời.
Lúc nghỉ, họ lại tổ
chức nhiều cuộc vui thú vị như là nhảy
chan-chán, trốn kiếm, u, cút bắt, nhảy dây, thí vơ...
Những tṛ ấy không phải chỉ
dành riêng cho trẻ nhỏ mà cả đàn ông, đàn bà cũng
nhào vô chơi’’
Đêm ấy trời trăng sáng
như ban ngày.’’ (Dưới đồng sâu)
Làng Thới B́nh có lẽ là h́nh ảnh tiêu biểu nhất trong tác phẩm Đồng Quê, h́nh ảnh của đời sống mang tính đặc thù của Cà Mau thời đó. Vẻ thanh b́nh, thanh thản từ cuộc sống vật chất đến nội tâm của người dân chân lấm tay bùn sau những lo toan của đời thường, được miêu tả trong tác phẩm, dù đă hơn nửa thế kỷ qua, gợi nhớ trong ḷng người đọc quê hương bên kia bờ Thái B́nh về một ḍng sông, một hàng dừa nước, rạch bần, ngọn mù u nơi quê cũ...
‘’Làng Thới B́nh nép ḿnh trong cḥm dừa
xanh rậm. Vài xóm nhà lá
leo-heo ở dọc theo bờ kinh nhỏ,
yên tỉnh với tháng ngày.
Cứ mỗi buổi sáng là
đàn ông, đàn bà lẩn cả con nít vác cuốc ra đồng,
quanh năm làm bạn với mấy mẫu ruộng nhà, vài
công rẫy khóm.
Ở đầu kinh thông ra ḍng
sông Trẹm, một cái chợ nho nhỏ nổi lên. Hai bên,
hai dăy phố ngói đứng sùm-sụp chịu đựng
với nắng mưa như xiêu vẹo.
Đấy là nơi chứa đựng
một phần dân chúng trong buổi sáng, đây là nơi
người ta t́m những thức ăn, vật dùng.
Cứ độ hai ngày, con tàu Rạch-Giá
ghé ngang, đem lại nhiều hàng hóa ở thị thành.
Mỗi lần tàu xúp-lê đàng xa,
là thiên hạ nhao nhao ra đón, chen lấn
ồn ào. Rồi mỗi khi tàu đi, chợ tan, làng Thới
B́nh yên tĩnh trở lại.
Ḍng sông Trẹm lững-lờ
trôi ngang và ban chiều, trong cḥm dừa xanh ấy, mấy
làn khói trắng bốc lên.
Người đàn bà xong việc
bếp núc, ẵm con ra đợi chồng về, lâu lâu
đuổi bầy gà đang bươi trên giồng rau cải.’’ (Quỷ vương)
Rời làng Thới B́nh, tác giả dẫn người đọc ‘’lội’’ vào các vùng sông nước chằng chịt, nào là: Rạch Ruộng, Rạch Ráng, Rạch Cui, Rạch Bần...nào là Tắc Ông Do,, Vàm sông Mang Giỗ, sông Băi Háp, Mương Chệc Kịch, Tham Trơi, Dớn, Năm Căn...Mới thấy vốn sống thực tế của nhà văn, nhà báo Phi Vân!
-Ḥ
hơ...ớ người không quen ơi,
Nghe anh, em cũng muốn
thương nhiều,
Nhưng hoa đà có chủ, khó chiều
dạ anh....
-Ḥ hơ... chim kia
c̣n thỏ thẻ trên cành,
Nghe em nói vậy, dạ không
đành rẻ phân...
Buổi ban
đầu, văn học miền
Cất một giọng ḥ và chờ đối đáp với niềm vui ‘’điệu nghệ gặp nhau là mầy tao quấn quưt’’. Có khi là điệu ḥ nên duyên nên nghĩa, có khi là điệu ḥ của khách thương hồ theo cuộc t́nh gió thoảng mây bay, hoặc bịn rịn hẹn ngày tao ngộ. Nhưng trong phóng sự ngắn ‘’Tiếng ḥ trong đêm vắng’’, tiếng ḥ đă dẫn tới một bi hài kịch, tiếng ḥ mồi chài cho một vụ cướp trên sông:
‘’Tôi h́nh dung một cô thôn nữ
mày liễu, má đào, có vóc ḿnh thon thon, có bộ tịch khả
ái...
...Bỗng anh chèo đang ngồi
nghỉ tay, giật ḿnh đứng phắt
dậy. Trong chớp nhoáng, anh bị một tên lực
lưỡng thộp ngực anh, đưa ngọn dao ngay cần
cổ ...Tôi giợm la nhưng một thằng trong bọn
‘’ấn’’ cho tôi một cùi chỏ vào hông...
Đă thế, tiếng con nhỏ
ḥ c̣n trêu gan trong mui nhỏ:
Chú bảy coi có con đàn bà nào ở
trong mui, đè cổ lột cho tôi sợi dây chuyền!...’’
Cho nên ‘’ở đồng quê, thế mà lắm chuyện’’
Chuyện ǵ?
Đầu tiên là chuyện chữa bịnh. Trái gió, trở trời, cảm mạo hay bất cứ bịnh lạ ǵ th́ đều được coi là mắc bịnh tà. Thậm chí ở nhiều nơi, con sanh ra trùng tuổi mẹ hoặc cha cũng là điềm không tốt. Phải mời thầy pháp, thầy cúng tới làm pháp sự, rồi giả bộ đem đứa bé ra bỏ ở gốc cây, bụi cỏ nào đó, rồi một người trong thân tộc làm bộ lượm được đứa bé bị bỏ rơi đem về và cho lại má nó nuôi...Vậy là hai má con không c̣n kỵ tuổi nữa mà cháu bé lại dễ nuôi.
Do đó, Cà Mau
nói riêng, được coi là đất dụng vơ của
các loại thầy, mà chỉ riêng ở ‘’Xóm Rạch Cóc’’ ‘’cóc
đâu chẳng thấy, chỉ thấy toàn là Thầy Rùa,
Thầy Pháp, Ông Đồng, Bà Cốt, Cô Tư, Cô Hai, Cô Bảy...
Ở đây có Xác Ông- tức Quan Công- là được nhiều
người rước nhất.Nhưng muốn cầu
Đức Quan Thánh về th́ phải tốn một con heo
(con gỏi) ...sau khi lễ đàn rồi, lẽ cố nhiên là phải về
tay Ông Xác.’’
Hay có đi ‘’qua Rạch Bà Già Sốc th́ phải dè chừng
thần rừng quỉ bụi đất Khánh Lâm’’.
Rồi thêm Ông Thầy Pháp có ‘’bùa tổ’’ với ‘’đạo phù thần’’, bắt ấn quyết và niệm chú ‘’Ôm mà xơ rốp’’...’’Mà ha xơ rốp’’...
Cả nơi sằn
dă quê mùa ở tận cùng Đất Mũi Năm Căn c̣n
có sự hiện diện của ‘’Mét Văn Quang (Maitre Văn Quang) là người có tài:
Tài đoán số, tài coi tướng, coi tử vi, mà đặc
biệt hơn hết là tài ‘’lẻo mép lanh mồm’’.
Bùa chú, phù phép, niệm chú, bắt quyết, trấn ếm...từ các nguồn Tây, Tàu, Miên, Lèo...được thi triển trên vùng đất tân bồi, nơi dân Miên đă từng sống lâu đời, cùng những đoàn lưu dân Việt, Trung hoa ( chủ yếu là Triều Châu, Quảng Đông, Phước Kiến).
Phóng sự Đồng Quê của Phi Vân cho thấy t́nh trạng tối tăm dốt nát của người dân trong xă hội đương thời, ở một nơi mà địa giới hành chánh c̣n nhiều thay đổi, tùy thuộc vào hoàn cảnh kinh tế, chánh trị và quân sự từng giai đọan.
Và lúc đó, Cà Mau c̣n là một quận của tỉnh Bạc Liêu.
Cà Mau là xứ quê mùa
Muỗi bằng gà mái, cọp
‘’tùa’’ bằng trâu. (3)
Cà
Mau khỉ khọt trên bưng
Dưới
sông sấu lội, trên rùng cọp um
Bạc
Liêu là xứ cơ cầu
Dưới
sông cá chốt, trên bờ Triều Châu...
Tưởng cũng nên lược qua
chút ít sử liệu về phần đất cực nam Tổ
quốc này:
’’ Cuối thế kỷ 17,
Mạc Cửu dẫn một số người Trung
Hoa bài Măn phục Minh đến Hà Tiên, chiêu tập đám
lưu dân, lập nên bảy xă dọc theo bờ biển hai
xă ở phía cực Nam là Rạch Giá
và Cà Mau...
Năm Gia Long thứ 7 (1808) đổi Cà Mau ra huyện
Long Xuyên... Năm Minh Mạng
thứ 6 (1825), đặt một tri huyện để cai
trị...
..Qua thời Pháp thuộc, từ khi Cà Mau thuộc về
tỉnh Bạc Liêu, th́ thường bổ nhiệm một
ông phủ, hoặc một ông đốc phủ sứ làm
chủ quận...
...Theo hiệp định Genève, ngày
20.10.54, Cà Mau được chỉ định là vùng ’’tập
kết’’ . Tại Vàm sông Ông Đốc,
tàu Nga (Stavropol), tàu Ba Lan (Kelinski) đậu chực sẵn
sàng để chở ra Bắc những người đi
tập kết .
Theo sắc lịnh số 143/NV ngày
25.10.55 thời Đệ nhứt Cộng Ḥa, Cà Mau đổi
tên là An Xuyên.’’ (4)
Từ sau 30.4.75, Cà Mau thay tên là Minh Hài.
Từ
t́nh trạng dân trí thấp kém của đại đa số
tá điền, dẫn đến niềm tin mê muội vào
các đấng Thần linh, mà họ nghĩ rằng sẽ
giúp họ tiêu trừ hết các bịnh tật lẫn giải
quyết các vấn dề khác trong cuộc sống,
Khi đạo bùa thành, ’’ mà hễ thành th́ nó linh nghiệm vô cùng. Theo lời
thầy tôi, nó dùng được đủ cách.. Trừ tà, ếm quỷ, trị các nọc
độc, giải phá bùa khác, làm mờ mắt kẻ thù,
làm thương hóa ghét, làm ghét hóa thương, thù ai có thể
làm chết được họ, thương ai có thể
làm cho họ mê...tùy theo tay ấn ḿnh bắt, tùy theo ư muốn
ḿnh quyết định...’’
Kết quả thế nào?
-Thằng
Năm và Ông Xác chia nhau con heo cúng c̣n bịnh nhân, bịnh vẫn
hoàn bịnh.
(Châu
Xương cử thanh long đao)
‘’Ái
ái, thằng cha thầy chó nầy, sao mầy dám ôm tao? Buông
ra không?...Buông!....Guốc nè !...và sau cùng là tiếng thằng
Năm...’’Úi cha ! Con ‘’tinh’’ dữ quá !’’ (Ông tướng thầy
ba)
-Thầy
Pháp với lá ‘’bùa Tổ’’ và
đệ tử với ‘’ đạo phù thần’’ cũng
không cứu nỗi con gái, không cứu nỗi người
thương ‘’Ối trời ơí ! Ối quỷ thần
ơi ! Quỷ vương đă bắt con tôi đem đi theo rồi’’ (Dưới
đồng sâu)
-C̣n
thầy tướng số ‘’Mét Văn Quang’’, sau khi bị tổ
trác, bị đập một trận nhừ tử,
đă’’trút linh hồn tại xứ Năm Căn : cái xứ
mà ‘’mét’’ đă phụ vào một chút công làm trôi mất tiếng
quê mùa’’
Trong cảnh cùng quẫn bị dồn
đến chưn tường, cũng có hạng người
lang bạt sống hôm nay biết hôm nay, khi thân phận cùng
đinh đă đưa đẩy họ đến nơi
cùng trời cuối đất. Họ quan niệm:
‘’Ván
bài hễ không chín th́ bù, đánh ‘’mẹ‘’ nó một tụ,
cho nó ra sao th́ ra !
Ở đời không làm được
Phật, th́ làm ăn cướp chớ có ǵ lo mậy !...’’
Tuy sống
trong t́nh trạng dốt nát quê mùa và mê tín dị đoan, họ
vẫn gĩữ được
bản chất lương thiện của người
nông dân thuần phác ‘’tin chắc có sự linh nghiệm của
đạo bùa cũng như người ta tin có sự thưởng phạt của
đất trời’’.
Hết
chuyện chữa bịnh, tới chuyện sinh hoạt giải
trí.
Tác giả phóng sự Đồng Quê
đă đúc kết phong tục, tập quán sống của
người dân Cà Mau thời buổi ấy bằng vài nét
chấm phá rất sống động!
‘’Muốn
ăn uống? - Có quán cà-phê !
‘’
Muốn cúng kiến? - Có Miễu Bà !
‘’
Không muốn sống nữa? - Ông là chủ bán ḥm.
Nhưng
sống vui vẻ, không phải chỉ ăn mà thôi. Cần phải
có những cuộc vui khác : hí trường là một sự
tối cần; chứng cớ, mỗi lần hát cho Bà xem,
người hàng xóm đều đến xem ngập miễu
!...
Miễu
Bà ở bên kia sông Quan -Lộ!
Mà bên kia sông Quan- Lộ nay là xóm...bến xe đ̣.’’
Cà Mau
đă có ‘’Mét Văn Quang’’ đem
chút ‘’văn minh’’ xuống tới Năm Căn th́ bây giờ
Cà Mau cũng đă có những chuyến xe đ̣ nối liền
Cà Mau tới Bạc Liêu, tới các tỉnh miệt trên, lên
tận Mỹ Tho, Saigon...Ông chủ bán ḥm nghiễm nhiên làm
chức Hội trưởng Hội Miễu Bà.. Miễu Bà
biến thành hí trường nên ông chủ bán ḥm- Hội truởng
Hội Miễu Bà kiêm nhiệm Ông Bầu v́ ông lập gánh
hát bội. Ông nghĩ:
‘’Ḿnh
muốn ích nước lợi dân, đi hát đâu chi cho xa,
mỗi đêm ở đây mỗi hát, vừa... cho Bà xem, vừa
cầm chân đám dân ‘’thân yêu’’. Tốn bao nhiêu? Một cắt
bạc !’’
Và áp-phích chữ quốc ngữ
được dựng lên:
‘’Đêm
nay chúng tôi viễn tuồn : ‘’Quê dun đạo: Tuồn thiệt
là ly kỳ... Dô cửa: Một cắt bạc!’’
Theo đà phát triển, gánh hát bội
‘’chỉn đốn’’ theo cải lương- Ông bầu-ông
hội trưởng-ông chủ bán ḥm...là người kinh
doanh.
Vào ‘’năm một ngàn chín trăm ba
mươi ba...Một hôm, cái bảng giấy liễn đỏ,
đầy đặc những chữ to to bất chấp
chánh tả :
Bổn
ban mới tiển được nhiều cô đàu khát.
Ngoài cô Tư Bé, Xáu Liệu, Ba Kiêm, c̣n tất cả 9
đàu. Luôn tiện, xửa rạp lại, chia hạn :
Thượn hạn :5 cắt, hạn nhứt
: 3 cắt, hạn nh́ : 2 cắt, hạn ba : 1 cắt. Và mỗi
chiều thứ bảy có đêm đặt biệt cho quư
Ông, quư Thầy, có chưn bươm bướm. Bổn ban
đă chỉn đốn theo cải lươn. Bỏ qua rất
uổn...( Chợ hay quê ? )
Đọc lại Đồng Quê mà thấy
vui niềm vui hồn nhiên dễ dăi của người dân
đầu tắt mặt tối chân lấm tay bùn.
Khi cô Tư Bé trong vai Điêu Thuyền,
v́ được một quan khán giả’’chiếu cố ‘’
...sắp sanh một quan con, nên ông bầu phải thay vai
đào khác. Tuồng đang diễn, giới khán giả xe
đ̣ cũng thành thật góp ư :
‘’Điêu
Thuyền mà ‘’đẹp’’ như vậy ,
th́ thằng cha Lữ Bố nếu có say mê, chắc là tại
nó...buồn ngủ quá rồi !’’
Và cô đào thế cô Tư Bé trong vai
Điêu Thuyền cũng không ngại tạm ngừng vai diễn
để đáp lễ :
‘’Xin
lỗi quư ông, quư bà, khốn nạn cái anh nào nói tôi là Chung Vô
Diệm ! ‘’
Hay trong phóng sự ‘’Đổng Trác biết
sập giàn ‘’, người đọc như ḥa ḿnh vào hoạt
cảnh của khán giả, không phải ở tuồng
hát mà là phản ứng của
khán giả, được Phi Vân lột tả một cách
tài t́nh :
‘’Anh
chàng Lữ-Bố có cái bộ ghen tuyệt diệu. Mỗi
lần anh hằn-học với Điêu Thuyền là mỗi
lần mấy cô ngồi chen nhau ở ‘’hạng ba’’ véo nhau
gần nhẩy nhổm và hít hà chắt lưỡi như
đám thằn lằn kêu đói ở trong đ́nh...
...Bọn
thanh niên đầu chải bóng láng, chen chúc nhau đứng
cặp-kè, rọ-rạy nói chuỵện vang trời...
...Có
vài chị đàn bà bồng con, tay vạch áo đưa vú
cho con bú mà mắt chăm ngay lên sân khấu, hồn gởi
trọn cho Điêu Thuyền. Đứa con ngậm vú không
được vùng khóc ré lên. Chị ta không kể đến,
cứ đứng sững giơ tay đánh chan-chát vào
đít đứa con. Đứa bé khóc ngất...’’
Phóng sự ngắn ‘’Quỷ
vương’’viết về giới trẻ. Cà Mau tuy xa và là
xứ quê mùa nhưng làn gió văn minh ‘’dởm’’ cũng có lần
thổi về, mang lại những
từ mới như ‘’Văn minh,
Hủ lậu, Nữ quyền, Giác ngộ.... ‘’và người ta lấy làm lạ
sao thằng Chột con ông Bính lại đổi tên là Hoàng
Hoa, lần lần thằng Phinh cháu ông Phó Tám đổi là
Tuấn Nghĩa, thằng Tích em Tuần Danh là Vân Mộng,
cho đến con Đẹt em gái chú Phồi cũng xưng
là Thúy Liễu và con út của ông Phó Cao là Kiều Nga.
...hễ
gặp nhau là cúi đầu rất sâu, ch́a tay ra siết chặt
:
-Vân
Mộng xin kính chào Kiều Nga !
hay :
-Thúy
Liễu này đa tạ huynh ông Tuấn Nghĩa !
Các bực cha mẹ, cô bác và bà con láng
giềng gọi gộp đám trẻ đó là ’’Quỷ
vương’’, dùng chổi quét
làm ‘’chúng xôn xao, té lăn ra, ḅ càng, mạnh ai nấy kiếm
đường tẩu thoát...
Nhưng ‘’bùa văn minh’’ c̣n ảnh hưởng nên chạy
trối chết mà vẫn c̣n vớt vát :
‘’Minh
Tâm thoát được ra ngoà́, hồn phi phách tán, lăn xă
theo Vân Mộng kêu khe khẽ :
-Vân
huynh, Vân huynh ! Đợi đệ theo với !...
Ngoài giới nông dân, c̣n có các từng lớp
khác nữa. Họ có ít nhiều vốn liếng nho học,
biết chữ quốc ngữ và tiếng tây. Các nhân vật
‘’thầy giáo’’ trong ‘’Muốn ăn trứng nhạn’’, ‘’Tiếng
ḥ trong đêm vắng’’, ‘’Các tṛ ơi, thầy phen nầy thọ
tử’’ ... phải biết ‘’sống chết’’ với địa
phương th́ mới trị nỗi đám học tṛ rắn
mắt, v́ ‘’đă không có biết bao nhiêu thầy v́ chịu
không nổi lũ con nít ‘’trời đánh’’ ấy phải cuốn
gói bỏ trường mà trốn đi’’
...Tuy nhiên trong các nghề kiếm
ăn, nghề ‘’dạy học’’ vẫn giữ một
địa vị quan trọng ở trong đồng,
đâu đâu cũng không dám coi thường.’’
Được trọng vọng
nhưng trong sinh hoạt thường nhựt, thầy cũng
lắm phen thất điên bát đảo, như theo ghe
đi đưa dâu lại bị cướp, hú hồn hú
vía v́ mê giọng ḥ thôn nữ trên ghe ăn cướp...hay cứ
tưởng bị trúng độc bùa ngăi khi ham ăn ‘’heo cấn’’
và hốt uống ‘’ rượu rừng’’.
Nói ǵ đến những người
có chút địa vị vai vế ở nông thôn như
Hương Ba, Chánh Khá trong ‘’Trao thân con khỉ mốc’’ hay
Ông Chủ, Phó Xă Việt trong ‘’Đạo’’.
Hôn lễ, giỗ chạp là những
dịp tụ hội khá đông đủ các nhân vật này
và cũng là dịp để họ ‘’nói chữ’’ .Bên cạnh
cái vui thanh nhă c̣n có cái vui trần tục rất dân dă mà chỉ
ở những đám giỗ, đám tiệc rất b́nh dân,
bản tánh con người được phơi bày rơ nét.
Nhất là khi đă vào vai ba chén rượu. Một Đ́nh
Úynh mê ăn, một pháp sư Nẫm chỉ chờ cơ hội
là ‘’ực một hơi ba ly rượu đế, chấp
chấp ngon lành rồi cầm rót thêm ly ḿnh và ly khách’’.
Mở đầu cuộc nói chữ,
tác giả dẫn người đọc vào ‘’thế trận’’
bằng cách giới thiệu hai nhân vật chánh :
‘’Bỗng
dưng Ông (chủ) đứng ngay lại, nh́n về phía cuối
bàn :
-Úy
chà ! Bữa nay có thắng Phó xă nữa chớ. Thằng
siêng quá, mầy ở trên Đồng Cộ hay giỗ hồi
nào mà xuống đây mậy ?
Phó
Xă vui miệng :
-Bẩm
Chủ, tôi theo màng màng mở trôi trong rạch mà t́m tới !
Rồi
từ chữ ‘’Đạo’’, hai người thi nhau lư giải
và nói chữ. Nào là ‘’đương vị hành chánh’’ không ‘’ ỷ
chúng hiếp cô’’, giờ ‘’ cáo lăo hồi gia’’ lẽ nào ‘’Quân
tử bất oán thiên hề bất vưu nhân’’ ...rồi
nào là’’dơng bất quá thiên, cường bất quá lư’’ :
Tửu
nhập ngôn xuất, Phó Xă Việt lư giải chữ ‘’Đạo’’
theo lối chiết tự :
‘’Tự
ḿnh thông tri âm dương, biết phân phải trái, biết
lẽ chánh tà, mới phải Đạo hoàn toàn chớ. Ấy
là tôi chỉ chiết tự sơ sơ như thế, chớ
phải nếu giải cho rành th́ phải cắt nghĩa tại
sao chữ Đạo liên tiếp đến mười hai
nét, mười hai hội của khí vận tuần huờn
từ ‘’tư, sửu’’ chí ư ‘’tuất, hợi’’.
Đó là phong cách sống của
người dân miền Nam. Có điều ǵ đó mới
nh́n ở bề ngoài tưởng chừng như buông thả,
nhưng trong đời sống nội tâm, họ vẫn
hàm dưỡng đạo nghĩa (điệu nghệ) . Sống ở một vùng đất mới khai phá, đa số họ
là lưu dân, nhiều người thân sơ thất sở.
Họ muốn tạo dựng cuộc sống mới với
một tâm hồn phóng khoáng tự lưc tự cường,
thoát khỏi ràng buộc khắt khe
và bất công của chính quyền. Họ biết
đến chữ nghĩa và đạo lư thánh hiền
nhưng đồng thời cũng biết áp dụng vào cuộc
sống thực tế của họ sao cho phải phải
phân phân.
Đó cũng là lư do tại sao ở
những làng xă miền Nam trước đây, họ đều
trọng đăi, mời mọc những ‘’ông thầy Huế’’
về để dạy dỗ
con em .
Hiểu được mạch sống
ngầm trong suốt và cao vọng của người dân miền
Nam, mới thấy được v́ sao mà suốt đời, họ cắm
ḿnh trên mảnh đất, chịu đựng một nắng
hai sương.
Qua phóng sự’’Trao thân con khỉ mốc’’,
người đọc theo đám rước dâu, theo con tàu
chạy ‘’đă hai hôm rồi : sông Ông Đốc, kinh xáng Bà
Kẹo, Đầm Cùn, kinh xáng Thọ Mai nhưng xóm Kiến
Vàng vẫn c̣n xa lơ xa lắc’’.
Người đọc biết
được phong tục tập quán về một lễ
rước dâu ngày trước ở sông rạch miền
quê, nhưng để ư đến cách đối
đáp giữa đàng trai,
đàng gái về đôi liễn cưới, sẽ nhận
ra ư thức đối kháng giai cấp cầm quyền của
họ.
Đọc hai câu liễn :
Thừa
long lạc ỷ tam chi thọ
Giá
phụng quan thành bách lượng xa
Rễ
lành đủ dựa tài lương đống
Dâu
thảo vui nên bậc thế quyền
Ông
tộc trưởng đàng gái nói thẳng ư kiến của
ḿnh:
‘’Già
này thấp thỏi không biết nôm na cao kiến như mấy
ông, già chỉ biết rằng trong rừng nho biển thánh
, không thiếu chi tiếng dùng, sao lại đem nào là ‘’thừa
long...giá phụng’’...tiếng của bậc đế
vương vua chúa vô làm chi cho tủi nhục thêm cho con nhà
‘dân dă’’chúng tôi’’.
Anh đi câu cá lén đă ‘’ từng
lượm mót từ hột ngọc trời, đă từng
cắm từng cọng lúa’’, ông tộc trưởng đă
thấm nhuần cái thể, cái dụng của chữ nghĩa
thánh hiền, th́ có lư nào họ ‘’đang tâm bứt cả cội
nguồn’’.
Dẫu là lời nói của nhân vật
hay là tâm huyết của tác giả Phi Vân, th́ mối quan hệ
thống nhất giữa nhân vật-tácphẩm-tác giả vẫn
tập trung nhất quán. Sự
thật thật sự của xă hội với muôn ngàn khía
cạnh chơn chất thô thiển qua sự thật
văn học dưới ng̣i bút phóng sự được
trau chuốt và sàng lọc của tác giả, cho người
đọc thấy , lối văn mà tác giả khiêm tốn
nói’’cẩu thả’’...’’có tính cách nhật tŕnh’’...’’câu chuyện
có vẻ nhất thời’’, thực ra đă nổi bật
quan niệm sống trung hậu, thủy chung, gắn bó với
đất nước trên tinh thần’’quan nhứt thời,
dân vạn đại’’ của người Việt miền
Nam..
Sẽ
là một thiếu sót rất lớn nếu không đề
cập đến một vấn đề quan trọng
trong đời sống dân quê miền Nam thời ấy.
Đó là mối quan hệ giữa tá điền-chủ
điền. Tác giả dành hẳn một ‘’phóng sự tiểu
thuyết’’ để viết về mối quan hệ này.
Như thể loại được xác định, các vấn
nạn thực tế về thảm cảnh của tá
điền được phần nào tiểu thuyết hóa,
cho người đọc tránh được những cảm
giác nặng nề căng thẳng trước những bất
công xă hội, trước những thủ đoạn gian
trá của kẻ bóc lột.
Sự cả tin của nhân vật Sáu
đờn ḱm vào ‘’đạo bùa thần’’ một lần nữa
cho thấy tŕnh độ dân trí thấp kém thời đó, dẫn
đến đời sống mê muội cùng quẫn của
giới tá điền. Mà thật ra, th́ dù không mê tín dị
đoan, từng lớp tá điền cũng vẫn là nạn
nhân của giới điền chủ. Một bên có thế,
có lực, có tiền, có điền sản, một bên chỉ
có mồ hôi lao động và niềm hy vọng.
Ông điền chủ Trần Háo Nghĩa
lại là người háo sắc. Cũng như một số
điền chủ không biết nương tay với tá
điền, ông đă có sẵn những thủ đoạn
để thủ lợi và làm giàu bất chánh. Khi kư tên vào
‘’Tờ lănh làm ruộng giao’’ là tá điền đă tự
kư bản án mắc nợ chung
thân.
Tin vào sự linh nghiệm của
‘’đạo bùa thần’’, Sau đờn ḱm không thấy những
mánh khóe xảo trá của Ông chủ Nghĩa, lúc được
che giấu bằng giọng
lưỡi ngọt ngào, lúc mua chuộc cảm t́nh
bằng vật chất, lúc lại vừa
mơn trớn vỗ về bao che kèm theo những hăm dọa...để
chiếm đoạt phụ nữ cô thế... Đụng
bất cứ chuyện ǵ, Sáu đờn ḱm ‘’cứ lâm râm
đọc thần chú và vẽ bùa’’......Ḷng tin tưởng ở
đạo bùa khiến tôi nói mạnh mẽ quá, hùng hồn
quá, chắc chắn quá’’...’’Trong đêm trường vắng
lặng, tôi càng suy nghĩ, càng thêm khoan khoái lạ kỳ ?
Ôi câu thần chú linh thiêng ! Hăy
gíúp tôi thêm bao đường vinh quang khác nữa... ’’Trong lúc đó, ông Chủ đă
‘’mám’’ bùa tôi nhiều thêm, cứ lân la đến nhà tôi
chơi măi’’...
Và rồi mối t́nh thoáng qua đối với cô Yến,
mối t́nh đối với Tám Én- người đă có lần
Sáu đờn ḱm coi như kẻ tử thù-, cả cuộc
đời hai mẹ con, dẫn tới bi kịch. Tác giả
không lư giải về ‘’mâu thuẫn giai cấp’’ hay xung đột,
đối kháng giừa hai từng lớp xă hội. Cái chết
v́ bị làm nhục của mẹ Sáu đờn ḱm
đưa tới hành động của kẻ bị dồn
vào chưn tường, phản ứng của ‘’tức
nước vỡ bờ’’.
Anh tá
điền Sáu đờn ḱm trước đă lănh nợ,
giờ lănh án 5 năm tù và 10 năm biệt xứ.
Có hy vọng
ǵ vào tương lai của cá nhân và xă hội?
Ở đoạn kết, tâm trạng
của nhân vật như một
nỗi buồn dằng dặc trên sông nước Cà Mau. Măn
hạn tù , Sáu đờn ḱm bỏ làng cũ,
‘’cất tạm một căn nhà trên ḥn Đá Bạc. Ở
đó, ngày ngày nghe gió thét sóng gầm. Chỉ có gió thét sóng gầm
mới an ủi được ḷng tôi...
Mà thôi, dĩ văng đă chết, c̣n nhắc
lại làm ǵ nữa !...
Họ không phải là người gây
nên tội ác, họ chỉ là nạn nhân của hoàn cảnh
xă hội và của một thời kỳ...’’
C̣n bao
nhiêu con người nữa, từ sau ‘’cuộc đổi
đời 75’’, chiều chiều đứng bên này bờ
đại dương vọng về Quê Mẹ?
‘’Ăn
cơm mới, nói chuyện cũ‘’ cũng không phải là vô
nghĩa v́ ‘’ôn cố tri tân’’ đó mà !
Cà Mau bên ấy
bây giờ ra sao?
Lật tập truyện ‘’Cánh
đồng bất tận’’ và ‘’Tạp văn’’ mới
xuất bản vài năm trước đây ở trong nước của nhà
văn nữ Nguyễn Ngọc Tư, càng thêm thấm thía
những điều mà tác giả Phi Vân đă ghi lại
từ hơn 60 năm trước. Vẫn là ‘’ở
đồng quê, thế mà lắm chuyện’’, nhưng
Nguyễn Ngọc Tư c̣n nói thêm, cũng về Cà Mau:
‘’Cà
Mau ḿnh nổi tiếng quá chừng...sở dĩ quê tôi
tiếng tăm vang dội v́ có quá nhiều chuyện...lu
bu.’’
Chuyện ǵ ? Chuyện kinh tế
thị trường theo định hướng xă hội
chủ nghĩa.
‘’...với làn sóng di cư của hàng trăm, hàng ngàn người
từ nơi khác tới, người Đất Mủi
khép cửa ḷng tin...Những người mới đến sống bằng cách phá rừng, càn
quét băi bồi...’’
Hay những câu hát thời đại xă hội chủ
nghĩa:
-‘’Bữa nay tôm chết thấy
buồn
Ngày mai tôm chết ḷng c̣n buồn hơn.’’
-‘’Lúa lên giá một, phân vọt lên
mười’’
Niềm tin của người
dân vào chính quyền, vào cuộc sống cũng cạn kiệt theo thời gian:
’’ Ba mươi tháng tư
này nữa, là tṛn hai mươi chín năm ḥa b́nh, con
đường quốc lộ ngay
xă vẫn ca
bài ’’Đường chỉ đẹp khi c̣n..dang
dở’’
’’ ... Hồi
đó Thị Trường có ’’ba không’’, không theo giặc, không
bỏ Đảng, bỏ cách
mạng...mà
bây giờ’’tùm lum không’’- không gạo, không tiền, không cá,
không rau cỏ ’’.
Hồi xưa v́ nghèo dốt quá nên thường mê tín dị đoan,
c̣n trong chế độ xă hội chủ nghĩa ’’ưu
việt’’, hầu như ra đường ai cũng lận
lưng’’ bằng đại học’’ th́:
’’Đă
vái đủ bốn phương tám hướng, cầu
xin trời đất, hồi đầu cúng vuông bằng
đầu heo, tôm chết, cúng hột vịt lộn, tôm vẫn
lụi đầu, có người bắt chó làm thịt cúng
(cúng chó tức la ’’ có trúng’’) . Chẳng biết
ai đầu tiên phát minh ra cách cúng này. Nhưng
nghe buồn cười đến rơi nước mắt.’’
Từ văn học phản ảnh hiện thực, đến cuộc sống hiện thực ’’c̣n nóng hỗi, vừa thổi vừa...xem’’, đó là chuyện các cơ quan nhà nước tạo điều kiện và hướng dẫn thân nhân t́m mộ liệt sĩ bằng ’’ phương pháp ngoại cảm’’ (5)
Rồi thêm chuyện... lu bu về văn minh văn hóa.
’’Hỏi cô con gái tên Trang đă học
tới lớp mấy rồi, cô cười, nghèo quá, mấy
anh em em hỏng ai biết chữ’’...
’’Và những đứa trẻ lớn
lên...Bến đ̣, cũng là nơi nhiều đứa con
gái qua sông lên thành phố rao bán ḿnh trong những’’ chợ vợ’’,
để lại mấy thằng con trai chiều chiều
ra bến đón đă đời mới ngơ ngác, trời
ơi, ḿnh đang chờ ai đây’’.
Chuyện...lu bu, cuối cùng cũng vào cốt lơi’’cái không cần thay đổi đă thay, c̣n cái cần thay đổi th́ chưa đổi bao giờ’’ như lời một anh thanh niên:
’’Nhà
nước hay nói đảng viên, cán bộ là đầy tớ
của nhân dân, sao tui thấy
’’đày tớ’’bây giờ sống
ngon hơn ’’ chủ’’ quá trời đất, nhậu chỗ
sang, ở nhà lầu. Tui hỏng hiểu ǵ hết.’’
(6)
Phóng sự Đồng Quê của Phi Vân gởi đến người đọc dù trước đây, dù hiện tại, h́nh ảnh cuộc sống của người miền quê Nam Việt. Trải qua vui buồn hay trăn trở một đời trên vùng đất mặn phèn, họ vẫn ’’không đang tay bứt cả cội nguồn’’ v́ họ tin vào ’’luật thưởng phạt của đất trời’’.
(Mà gẫm lại
’’trời cao có mắt’’ chớ ! Đâu
phải tự nhiên mà vùng Đất Mũi mỗi năm
được phù sa tích tụ và bồi
thên gần trăm mét. Trời đất công bằng lắm,
’’thưởng’’ cho dân miền
’’Người ta tin có sự thưởng phạt của đất trời !’’
Đó
là tấm ḷng của người dân quê miền
Nhưng câu cuối cùng trong đọạn kết của tiểu thuyết phóng sự ’’Dưới đồng sâu’’, lời của nhân vật Sáu đờn ḱm không khỏi làm người đọc phân vân:
’’ Họ không phải là người
gây nên tội ác, họ chỉ là nạn nhân của hoàn cảnh
xă hội và của một thời kỳ...’’
Họ ở đây là ai? Là đám đông tá điền một đời tối tăm lam lũ, là những thế hệ tá điền một nắng hai sương chịu nhiều oan ức, tội t́nh hay bao gồm cả những loại điền chủ như Trần Háo Nghĩa?
Cho nên, phóng sự Đồng Quê của Phi Vân dù đà hơn nửa thế kỷ vẫn c̣n là quyển sách mở, c̣n lắm chuyện về cuộc sống và con người ở Đất Mũi nói riêng, của cả đất nước và dân tộc nói chung, cần giải quyết trên cơ sở tự do, dân chủ và tôn trọng nhân phẩm.
Đối với ai c̣n nặng ḷng với quê hương dân tộc, dù đang ở trong nước hay sống đời lưu vong!
Tháng chín gọi Thu về trên những chiếc lá vàng bắt đầu rơi trong gió nắng. Bên Cà Mau quê cũ, mùa gió chướng cũng đă trở ḿnh.
Trung Thu 2008 - 14.9
Nguyễn Song Anh
-----------------------------------------
Chú thích:
(1) Tác giả Phi Vân, tên thật là Lâm
thế Nhơn, sinh năm 1917 trong một gia đ́nh trung
lưu .ở Cà Mau (An Xuyên). Phi Vân là một nhà
văn kiêm nhà báo, chuyên viết truyện ngắn và phóng sự.
Từng cộng tác với hầu hết các nhật báo, tuần
báo, tạp chí ở miền Nam; từng điều khiển
ban biên tập các nhật báo Tiếng Chuông, Dân Chúng, Tiếng
Dân,, Dân Quí, Thủ Đô, Cấp Tiến, là Tổng thư
kư Nghiệp đoàn kư giả Nam Việt trong liên đoàn kư
giả quốc tế (I.F.J.) Đă xuất bản Dân Quê,
T́nh Quê, Cô Gái Quê nhưng đáng chú ư hơn hết là tập phóng sự Đồng Quê
(Giải nhất cuộc thi Văn Chương của Hội
Khuyến Học Cần Thơ năm 1943 và đă được
một nhà văn Trung Hoa dịch ra bạch thoại năm
1950. (trích lại theo Đồng Quê, bản
của nxb Văn nghê tp HCM-2000).
Theo Vy Thanh
(Lớn lên với đất nước), Phi Vân c̣n có chân
trong Ban biên tập báo ’’Tiếng súng kháng địch’’ của
Quân khu 9 (Cộng sản). Tờ báo phát
hành từ 10.1.1947 đến năm 1954. và ’’ trong
năm 1949, tôi (Bùi Đức Tịnh tự Thanh Ba) cùng với Lê Thọ Xuân,
Nguyễn Văn Hiếu, Phi Vân, Thê Húc lănh toàn bộ công tác
biên tập của nhật báo Thần Chung do Nam Đ́nh làm
chủ nhiệm sáng lập.’’
(2) Cần Thơ là tỉnh đầu
tiên ở miền Tây được lập Hội Khuyến
học (23.3.1906) do ông Vơ Văn Thơm làm Hội trưởng,
hai ông Hồ Hưng Nhường và Nguyễn Háo Văn làm Hội
phó.
(3) ’’Tùa’’: tiếng Triều châu (Tiều)
có nghĩa là to lớn.
(4) Cà Mau xưa và nay của Nghê
Văn Lương , Huỳnh Minh (tr. 13
đến 24)
(5) Báo An ninh thế
giới số 641, ngày 31.3.2007 đưa tin:
‘’Ba cơ quan (Liên hiệp
Khoa học công nghệ Tin học ứng dụng (UIA), Viện
Khoa học h́nh sự-Bộ Công an), Trung tâm Bảo trợ
văn hóa kỹ thuật truyền thống...hướng dẫn ‘’Chương tŕnh t́m mộ liệt
sĩ bằng ngoại cảm’’.
-phải
tiết kiệm, giản dị, tránh ăn uống lăng phí
và tránh ở khách sạn sang trọng…v́ xác suất thành công
rất ít, mọi người thường gọi hiện
tượng này là ‘’liệt sĩ cảnh cáo đấy’’.
-cần phải
xếp hàng theo thứ tự v́ ‘’các liệt
sĩ không hài ḷng với việc chen ngang nên làm nhiễu thông
tin’’.
-Riêng các liệt
sĩ t́nh báo thường được làm nhanh và thông tin
rơ nét hơn....có lẽ Hội dồng
tâm linh ‘’ưu tiên cho các liệt sĩ t́nh báo...”
- Phải
là người có vai tṛ và quan hệ mật thiết nhất
đối với người đă khuất, nếu v́ lư
do chính đáng mà không thể tham gia trực tiếp được th́ phải thắp
hương ủy quyền cho người có vai tṛ tiếp
theo .
(6) Xem
‘’Tạp văn ‘’ và ‘’Cánh đồng bất tận’’ của
nhà văn nữ Nguyễn Ngọc Tư.
’’Chính quyền
tỉnh Cà Mau, cả các nhà nghiên cứu phê b́nh văn học
cho rằng ’’Cánh đồng bất tận’’ là thứ
văn chương phản động, thậm chí là chống
Cộng, tục tĩu, dâm ô, chống lại chủ
trương của Đảng và nhà nước....Báo Tuổi
Trẻ trích dẫn báo cáo ngày 27.3.2006 của Ban Tuyên
Giáo Tỉnh Ủy Cà Mau như sau: ’’Hội Văn Học
Nghệ Thuật kiểm điểm,
phê phán tác giả một cách
nghiêm khắc, rút kinh nghiệm khi viết...’’
(Trich lại theo
báo Sinh Hoạt Cộng Đồng, sô tháng 5.2006).