CHỮ Y
TRONG TIẾNG VIỆT
Một ngàn năm lịch sử đă
trôi qua kể từ khi kinh đô được dời
từ Hoa Lư về Đại La, rồi được
đổi tên là Thăng Long, tức Hà Nội ngày nay.
Nhưng khi đặt bút xuống để viết, ta
không khỏi ngập ngừng... Triều vua nào đă
dời đô từ Hoa Lư về Đại La rồi
đổi tên là Thăng Long? Đời Lư Thái Tổ hay
đời Lí Thái Tổ? Để trả lời, mỉa
mai thay chúng ta không cần phải lục t́m trong sử sách,
mà phải đi t́m lai lịch của một mẫu
tự: Chữ Y! Đúng vậy, v́ tính chất của
chữ Y trong tiếng Việt có thể cho chúng ta câu
trả lời đúng: "Nhà Lư" hay "Nhà Lí",
viết thế nào có lư (lí) hơn?
Để đi t́m lời giải
đáp cho văn viết, trước hết chúng ta cần
phải phân tích tính chất ngữ âm của mẫu tự
Y.
Y LÀ NGUYÊN ÂM HAY BÁN NGUYÊN ÂM?
Đây là một
đề tài thú vị đă gây tranh luận không ít trong
nhiều ngôn ngữ. Ngữ âm học (Pháp: phonétique, Anh:
phonetics) quá rộng lớn cho chúng ta bàn căi ở đây. Trong
khuôn khổ bài này, người viết chỉ xin lạm
bàn với đôi chút ư kiến xoay quanh những câu hỏi
sau:
"Y là nguyên âm hay bán
nguyên âm trong tiếng Việt?”
"Có cần thiết
phải thay I vào Y khi viết không? Nếu có th́ trong
trường hợp nào? Hậu quả ra sao?"
I. MẪU TỰ Y, NGUYÊN ÂM
HAY BÁN NGUYÊN ÂM TRONG TIẾNG VIỆT?
Trong tiếng Pháp, mẫu
tự Y được gọi là "i grec" v́ nó không
phải là nguyên gốc La Tinh, mà được
người Romains mượn từ mẫu tự Hy
Lạp (Upsilon), tiếng Pháp phát âm Y giống như mẫu
tự I. Trong tiếng Anh, mẫu tự Y có thể
được phát âm hai cách khác nhau như trong chữ “baby”
hay trong chữ “why”. Mặc dù có nhiều ngôn ngữ sử
dụng mẫu tự La Tinh, nhưng mỗi ngôn ngữ
đều có thể có một bộ nguyên âm riêng biệt. V́
vậy, Y là nguyên âm hay bán nguyên âm là tùy vào từng ngôn
ngữ. Sau đây, chúng ta hăy thử t́m hiểu thêm trong
tiếng Pháp và tiếng Anh, là hai ngôn ngữ có những
sự liên quan khá mật thiết với tiếng Việt
ngày nay, cộng với cách sử dụng thông thường
của chữ Y để thử đi đến kết
luận về tính chất của chữ Y trong tiếng
Việt.
Tự điển Le Grand
Larousse (online) giải thích mẫu tự Y như sau :
Chữ thứ hai mươi lăm trong bảng mẫu
tự tiếng Pháp, được dùng để ghi nhận
nguyên âm /i/ hoặc phụ âm /j/. ("Vingt-cinquième lettre de
l'alphabet français, servant à noter soit la voyelle [i], soit la consonne
[j]").
Tự điển Oxford
Advanced Learner’s Dictionary th́ chỉ cho định nghĩa
ngắn gọn : Y là chữ thứ hai mươi lăm
trong bảng mẫu tự tiếng Anh.
NGUYÊN ÂM
Trong tiếng Pháp, nguyên âm
(voyelle) được định nghĩa là âm nói mà khi phát
ra làn hơi đi qua thanh quản để tạo ra thanh
âm không bị chướng ngại ǵ ngăn trở (“Son du
langage dont l'articulation est caractérisée par le libre écoulement du flux
d'air expiré à travers le conduit vocal qui ne comporte aucun obstacle
susceptible d'engendrer la formation d'un bruit audible (Le Grand Larousse). Tự
điển này không liệt kê các nguyên âm ở phần
định nghĩa.
Trong Anh ngữ, th́ nguyên
âm (vowel) được định nghĩa là âm nói phát ra
với miệng mở và lưỡi không đụng vào
răng hay ṿm họng (“A speech sound in which the mouth is open and
the tongue is not touching the top of the mounth, the teeth, etc." (Oxford
Advanced Learner’s Dictionary, 7th Ed.). Tự điển này
liệt kê các nguyên âm trong tiếng Anh là A, E, I, O và U (không có
Y).
Tự điển Từ
và Ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân, xuất bản
trong nước năm 2000 định nghĩa nguyên âm là
"Âm phát ra từ cuống họng thành tiếng, không
bị cản trở ở miệng". Theo tác giả
Nguyễn Lân th́ tiếng Việt có 12 nguyên âm, trong đó có
Y.
Như trên, ta có thể
nhận xét rằng định nghĩa nguyên âm khá thống
nhất trong ba ngôn ngữ Anh, Pháp và Việt. Tuy nhiên, Y là
nguyên âm hay không th́ các nguồn tra cứu trên đă không
thống nhất.
BÁN NGUYÊN ÂM
Tự điển Larousse
không cho định nghĩa rơ rệt về bán nguyên âm
(semi-voyelle) mà giải thích rằng bán nguyên âm là những âm
như /j/ trong "paille", [ɥ] trong “lui”và /w/ trong “oui”,
nằm
giữa nguyên âm và phụ
âm. (“Type de sons tels que, en français, [j] (paille), [ɥ] (lui) et [w]
(oui), intermédiaires entre les voyelles et les consonnes”). Bán nguyên âm
cũng c̣n được gọi là bán phụ âm
(semi-consonne) (Larousse).
Tự điển Oxford
định nghĩa bán nguyên âm (semi vowel) là âm phát ra nghe
như nguyên âm, nhưng lại có chức năng như
một phụ âm. Thí dụ âm
/w/ trong chữ “wet” hay âm /j/ trong chữ “yes” (“A speech sound
that sounds like a vowel but functions as a consonant”. Oxford).
Tự điển Việt Nam của
Nguyễn Lân không có định nghĩa cho bán nguyên âm.
Nhận xét: Trong tiếng Pháp, Y không
được định nghĩa rơ ràng như là một
bán nguyên âm v́ âm /j/ được biểu thị bằng
"ill" như trong các chữ "paille",
"fille" hay cheville". Trong tiếng Anh, bán nguyên âm
được định nghĩa bằng chức năng
(function) của mẫu tự, chứ không được
định nghĩa một cách quy ước bằng cách
liệt kê ra chữ nào là bán nguyên âm. Trong Tự điển
Việt Nam hiện nay, Y lại được định
nghĩa rơ ràng là nguyên âm. Như vậy, Y không
được định nghĩa một cách quy
ước như là bán nguyên âm trong cả ba ngôn ngữ, mà
tùy thuộc vào chức năng của nó trong từng
chữ (từ).
Đây chính là điểm quan trọng
sẽ được phân tích trong phần sau về
chức năng của Y trong tiếng Việt.
NHỊ HỢP ÂM (diphtongue, diphthong) và TAM
HỢP ÂM (triphtongue, triphthong).
Tự điển Oxford định
nghĩa diphthong và triphthong lần lượt là âm kết
hợp bởi hai hoặc ba nguyên âm. Thí dụ âm /ou/ trong
chữ “doubt” (nhị hợp) hay âm /ai-r/ trong chữ “fire”
(tam hợp). Trong khi đó, Larousse định nghĩa
diphtongue là một “phức nguyên âm” (voyelle complex) mà khi phát ra
âm thanh phải uốn đi một lần. Tuy nhiên, Larousse
lại cho rằng trong Pháp ngữ ngày nay, diphtongue không
tồn tại nữa, v́ những âm như /au/, /eu/, /ou/
đă được coi giống như những nguyên âm
đơn tương ứng. Larousse định nghĩa
triphtongue một cách tương tự (âm thanh uốn hai lần
khi phát âm), nhưng lại chỉ cho thí dụ trong tiếng
Anh (chữ "fire") mà không có thí dụ tiếng Pháp.
Thật đúng vậy, v́ những âm hợp bởi ba nguyên
âm như /eau/ và /eue/ cũng đă được
đồng hóa với nguyên âm đơn /o/ và /e/ khi phiên âm
trong tiếng Pháp ngày nay.
Tự điển Việt Nam của
Nguyễn Lân không có định nghĩa tương
đương cho diphtongue hay triphtongue.
Với những định nghĩa trên,
chúng ta hăy thử phân tích xem Y là nguyên âm hay bán nguyên âm và trong
những trường hợp nào Y được dùng
để tạo ra nhị hợp âm hay tam hợp âm trong
tiếng Việt.
Bán nguyên âm (semi vowel), cũng có khi
được gọi là bán phụ âm (semi consonant), tự
nó không tạo ra "syllable" (tạm dịch là âm
vận), mà chỉ được dùng kèm với nguyên âm khác
cấu thành nhị hợp âm và tam hợp âm. Thí dụ tiếng
Anh, chữ Y trong "yes" là bán nguyên âm v́ nó kết
hợp với một nguyên âm khác làm thành nhị hợp âm
/j/. Nếu cắt bỏ nguyên âm kia đi, th́ không phát âm
được (trường hợp chữ “yes”), hoặc nếu có phát âm
được th́ âm sẽ khác đi (trường hợp
chữ “boy”). Bây giờ chúng ta hăy xem đến chức
năng của Y trong những chữ sau đây:
"party" và "symphony". Nếu xét về chức
năng, th́ tất cả các chữ Y trong "party" hay
“symphony” phải được coi là nguyên âm v́ tự
mỗi chữ Y đứng một ḿnh, cạnh hoặc
giữa các phụ âm đă có thể tạo ra một
syllable khiến cho phát âm được mà không cần nguyên
âm nào khác trợ giúp. Thí dụ với Y làm phận sự
của một nguyên âm có rất nhiều trong tiếng Anh,
như trong “hymn”, “mummy”, “baby”, “system”, “symptom”, và rất
nhiều tĩnh từ và trạng từ kết thúc
bằng Y.
Trong tiếng Pháp, ta thấy Y làm phận
sự của một bán nguyên âm trong những chữ như
“yeux”, “yoyo”, “yaourt”, hay “voyage”. Trái lại, Y phải
được coi là nguyên âm trong những chữ như
“cygogne”, “cycle”, “stylo”, “lyre”, “lycée”, “lys”, “lynx”, “myth”, “cyclone”,
“gymnase”, “pyramide”, v.v... Lư do cũng như trên đă bàn: Trong
những chữ vừa kể, Y đứng một ḿnh
như một nguyên âm mà không cần nguyên âm khác đi kèm. Khi
đứng cuối chữ, th́ Y cũng có thể làm
chức năng nguyên âm như trong "Vichy",
"Champigny", “Clichy”.
Trong tiếng Việt, Y cũng có thể
đứng riêng ("lư", "mỹ", "ư") hay
đứng chung với nguyên âm khác ("yêu",
"quỳnh", "nguyên", "quư"). Tương
tự như trong tiếng Anh và tiếng Pháp, nếu
đứng riêng th́ Y phải được coi là nguyên âm v́
nó hoàn toàn đảm đương được
chức năng của một nguyên âm, tức là tạo ra
âm vận (syllable) với những phụ âm mà không cần sự
giúp đỡ của nguyên âm nào khác.
Về cách phát âm và “trường
độ”, th́ ta thấy Y trong tiếng Việt
được phát âm hoàn toàn giống như I. Ta không
thể nào đoan quyết được rằng "lư"
phát âm dài hay ngắn hơn "lí". Nói chung, theo thiển
ư th́ khái niệm “trường độ” của một âm
trong tiếng Việt là không có căn bản, v́ tiếng
Việt là tiếng độc vận (monosyllable), mỗi
chữ (từ) đều chỉ có một vần, cho dù
vần đó có thể là nhị hợp hay tam hợp âm, cho
nên muốn kéo dài âm chính ra bao nhiêu th́ kéo, tùy theo người
nói và tùy theo ư nghĩa khi nói. Thí dụ khi nói mỉa mai th́
kéo dài chữ ra, tức là kéo dài nguyên âm ra: "Mày giỏi
nhỉỉỉ!". Khi quát nạt th́ nói ngắn
lại, khô khan: "Cút đi!", v.v… Trường
độ không phải là tính chất để phân biệt
Y với I trong tiếng Việt và lại càng không phải
là lư do để thay thế Y bằng I trong mọi
trường hợp.
Trở lại với chức năng
của Y trong tiếng Việt. Như trên, ta thấy Y
chỉ có thể được coi là bán nguyên âm khi tự
nó không tạo được âm vận mà cần sự
kết hợp với một hay hai nguyên âm khác. Như
vậy, trong những chữ như "ư”, “lư”, “mỹ”… Y
phải là nguyên âm v́ ḿnh nó đă tạo ra âm vận mà không
cần nguyên âm nào khác. Trường hợp Y đứng sau
vần “qu” như trong chữ
"quy", th́ có thể phân tích theo hai cách. Thứ
nhất, nếu ta coi là Y đă kết hợp với nguyên
âm U để tạo vần "uy" (là một diphthong)
th́ phải coi Y là bán nguyên âm. C̣n nếu coi vần
đầu là "qu" (đọc là "quờ") th́
Y c̣n lại một ḿnh (monophthong) nên Y phải là nguyên âm.
Như vậy, sau "qu" th́ viết y hay i là c̣n tùy
ở sự phân tích vần "qu". Hơn nữa, sau
"s" th́ hầu như đại đa số
người viết ngày nay ở khắp mọi nơi
đều dùng "i", như trong các chữ "y
sĩ", "bác sĩ", "giáo sĩ"... Đó là
vấn đề thói quen mà chúng tôi sẽ xin đề
cập trong phần sau. C̣n khi Y kết hợp với
một hay hai nguyên âm khác th́ hẳn nhiên Y đă làm chức
năng của một bán nguyên âm, như trong "yêu",
“quỳnh” hay "nguyên".
Tóm lại, trong tiếng Việt, nếu
ta chọn định nghĩa một cách tiên quyết theo
quy ước, hay theo một văn bản chính thức
của một hàn lâm viện nói rằng trước
hết Y phải là bán nguyên âm, th́ theo định nghĩa,
nó không thể đứng riêng được mà cần có
nguyên âm khác đi kèm trong bất cứ trường hợp
nào. Nếu chọn cách định nghĩa này th́ Y chỉ
có thể đứng chung với nguyên âm khác để
tạo ra diphthong hay triphthong mà thôi chứ không thể đứng
riêng rẽ như một nguyên âm. Theo cách này th́ "lư", "mỹ", hay
"ư" đều phải sửa lại là "lí",
"mĩ" và "í". (Xin mở dấu ngoặc
ở đây để nhắc lại là Tự điển
Việt Nam của Nguyễn Lân đă định nghĩa
ngược lại và khẳng định Y là nguyên âm).
Ngược lại, nếu ta chọn
định nghĩa theo chức năng (theo cách
được giải thích trong tự điển Anh
ngữ Oxford), th́ như đă nói trên, Y có hai chức
năng. Trong "lư", "mỹ" hay "ư", Y làm
chức năng của một nguyên âm (không cần nguyên âm
nào khác đi kèm). Như thế, không cần thiết và không
bắt buộc phải thay I vào Y trong những
trường hợp này. Tuy nhiên, Y không mang chức năng
của một nguyên âm trong các chữ như "yêu",
"quỳnh", hay "nguyên" v́ nếu bỏ các
nguyên âm bên cạnh đi th́ không phát âm được
hoặc âm sẽ biến đổi. Vậy Y là bán nguyên âm
trong các trường hợp này và không thể thay thế
bằng I được (v́ I là nguyên âm, tính chất không
tương đồng).
KẾT LUẬN:
Theo thiển ư, trong tiếng Việt, Y là
nguyên âm, hay đúng hơn là làm nhiệm vụ nguyên âm khi
đứng riêng một ḿnh không có nguyên âm khác đi
cạnh, dù ở vị trí nào. Ngược lại, Y làm
nhiệm vụ bán nguyên âm khi kết hợp với một
hay hai nguyên âm khác. Do đó, ta có thể dùng Y ở mọi vị
trí như nằm ở đầu chữ (‘yêu”, bán nguyên âm,
tạo nhị hợp âm), hay giữa chữ (“nguyên”, bán
nguyên âm, tạo tam hợp âm), hay cuối chữ (“lư”, nguyên
âm, đơn âm) đều được và không sai chính
tả cũng như không phạm vào các quy tắc của
ngữ âm học. Như vậy, nếu đă quen viết Y
th́ không cần bỏ để thay I vào những chữ
như “Ư tứ”, “Quản lư”,
“Lư do”, “Ly biệt”, “Công ty”, “Lư Thái Tổ” và hàng trăm
chữ tương tự khác.
II. SỤ THAY THỀ I VÀO Y TRONG TIỀNG VIỆT: ĐƠN
GIẢN HÓA HAY PHỨC TẠP HÓA?
Như chúng ta đă biết, chữ
Quốc Ngữ có nguồn gốc La Tinh từ các nhà
truyền giáo tây phương. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes
(Đắc Lộ) được coi là người sáng
lập ra chữ Quốc Ngữ. Tuy nhiên, không v́ thế mà
chữ Quốc Ngữ phải theo đúng quy tắc
của tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha
là ngôn ngữ của các nhà truyền giáo thời đó, v́
ngay cả những tiếng này cũng có nhiều quy
tắc khác nhau dù có chung một nguồn gốc La Tinh.
Để có thể đối thoại được
với người bản xứ trong mục đích
truyền giáo, các giáo sĩ đầu tiên đến
Việt Nam chắc chắn đă phải học cách phát âm
từ dân Việt. Một tài liệu cho rằng giáo sĩ
Đắc Lộ đă học cách phát âm Việt ngữ từ
một cậu bé chừng 12 tuổi làm phụ lễ ở
nhà thờ (Wikipedia, Alexandre de Rhodes). Như vậy, nghe
người bản xứ phát âm ra sao, các giáo sĩ sẽ
dùng mẫu tự la tinh phiên âm lại y hệt như
vậy thành chữ viết. Trong quyển Tự
Điển Việt Nam - Bồ Đào Nha - La Tinh của
Alexandre de Rhodes biên soạn (có thể vào xem nguyên bản
ở link này http://purl.pt/961 do Thư Viện Quốc Gia
Bồ Đào Nha để lên mạng), ông đă không phân
biệt nguyên âm "I" với "Y", mà gộp chung
trong mục "I". Ông viết "í", "vô í",
"địa lí", nhưng "yếu đuối",
"chết yểu", và "yết hàu".
Nếu suy ra từ đó, th́ chính Giáo
sĩ Đắc Lộ đă không coi Y như một nguyên
âm, nên ông đă dùng I trong các chữ như "vô í",
"địa lí". Tuy nhiên, đó chỉ là những phác
thảo đầu tiên, rất đơn sơ cho tiếng
Việt. Cũng trong tự điển đó, ông viết
'tr" thành "blơ", như "trở đi
trở lại" đă được viết là
"blở đi blở lại", "Trời"
viết là "Blời" (v́ người Đàng Trong khi
đó phát âm như vậy). Điều đó chứng
tỏ ông nghe sao th́ phiên âm ra như vậy, chứ không
hề định ra một
phương pháp hay nguyên tắc cố định nào
cho tiếng Việt. Giả thử khi đó ông nghe một
người Quảng Nam, người Huế, hay
người Bùi Chu, Phát Diệm với những cách phát âm
đặc biệt th́ chắc ông cũng sẽ phiên âm ra
như vậy mà thôi.
Tiếng Việt từ Alexandre de Rhodes
cho đến nay đă trải qua biết bao biến
đổi. Cho đến khi nào chúng ta chưa có
được một Hàn Lâm Viện được toàn dân
công nhận để tiêu chuẩn hóa tiếng Việt th́ những
cách dùng chữ hay viết chữ chỉ là do thói quen từ
lâu đời mà ra. Không ai có thể đoan quyết một
nguyên tắc đúng về việc sử dụng nguyên âm
"I" hay "Y" trong tiếng Việt. Cứ xem
chữ "giặt gỵa" th́ biết! Như
đả nói ở phần trên, Tự điển Từ và
Ngữ Việt Nam, NXB TP HCM, ấn bản năm 2000, tác
giả Nguyễn Lân đă giải thích "Y" như sau:
"Y, (danh từ) Chữ cái thứ hai mươi ba và là nguyên
âm thứ mười hai của vần quốc
ngữ". Như vậy, ngay một nhà ngôn ngữ
học đương thời trong nước
được mang danh hiệu "Nhà giáo nhân dân"
cũng không định nghĩa Y là bán nguyên âm (xin nhấn
mạnh như vậy để chứng tỏ tác giả
chắc hẳn đă phải tuân hành những quy
định của chính quyền đương nhiệm,
nếu có, về thay đổi trong tiếng Việt so
với trước năm 1975 ở Miền Nam). Thế
nhưng, dù định nghĩa Y là nguyên âm, ông vẫn dùng
"I" thay cho "Y" trong các chữ như "lí
do", "quản lí", "mĩ thuật"... mà
lại giữ nguyên "Y" trong các chữ như "vô
ư", "ư vị", "ỷ lại",
"yểu", "yếu"..., và ngộ nghĩnh
nhất là chữ "y lí". Ngay cả chữ "nước
Mỹ" cũng được viết là "Mĩ"
(trong chữ mĩ kim, giải thích mĩ là nước
Mĩ). Tại sao tác giả Nguyễn Lân định
nghĩa Y là nguyên âm mà lại phải thay thế nhiều
chữ Y với I như vậy? Có nguyên tắc văn
phạm hay "phát âm học" nào chứng minh cho sự
thay đổi đó không, hay chỉ là... thay đổi
để cho khác trước và theo đúng quy định
của nhà nước mà thôi?
Chữ viết th́ do các nhà thông thái làm ra,
nhưng ngôn từ của một dân tộc chắc
chắn phải đến từ dân gian. Các nhà ngôn ngữ
học chỉ làm công việc dùng những kư hiệu
để ghi chép lại những ǵ dân gian trao đổi
với nhau. Lâu dần, chính các thói quen đă tạo nên ngôn
ngữ riêng biệt của một dân tộc. Dân tộc nào
cũng hănh diện về ngôn ngữ của ḿnh mà không
muốn thay đổi. Thí dụ, các chữ e hay h muet (không
phát âm) trong tiếng Pháp có nguồn gốc từ thời
Trung Cổ, do các thư lại viết thuê đơn
từ cho dân ngu, đếm số mẫu tự mà tính
tiền viết mướn nên đă bịa ra thêm
để kiếm thêm tiền! Nhưng thế kỷ này qua
thế kỷ khác, cho dù nước Pháp có một hàn lâm
viện ngôn ngữ học vào hàng cao thủ, nhưng
cũng không ai nghĩ đến việc bỏ các chữ e
hay h muet đi cả. Đó là v́ những chữ đó đă
biến thành thói quen, và hơn nữa đă góp phần làm
nên nét hoa mỹ cho tiếng Pháp, một ngôn ngữ mà
người Pháp rất hănh diện. Trong cái hănh diện
đó bao gồm cả những chữ e và h "câm" mà
ai cũng biết nguồn gốc là từ các người
viết mướn bịa ra! Chắc chắn Hàn Lâm
Viện Pháp không bao giờ sửa những chữ đó
một khi chúng đă được những Montesquieu,
Rousseau, Hugo hay Verlaine... sử dụng như một thói quen
dân tộc không thay đổi được. Mà thay
đổi để làm ǵ cơ chứ? Có ǵ xấu xa
đâu mà cần phải thay đổi?
Những động từ bất quy
tắc trong Anh ngữ cũng vậy. Chúng ta có thể
tự hỏi tại sao không đơn giản hóa, tiêu
chuẩn hóa hết bằng cách thêm "ed" vào tất
cả các động từ th́ hiện tại để ra
th́ quá khứ cho xong chuyện? Người Anh hay
người Mỹ sẽ không bao giờ làm chuyện
đó, bởi v́ không ai muốn, và cũng không một
viện hàn lâm Anh ngữ nào có đủ “quyền lực”
dùng văn bản chính thức để sửa đổi
ngôn ngữ của Shakespeare, của Byron, của Jefferson,
của Frost..., một thói quen đă ăn sâu vào cội
nguồn dân tộc, nhất là khi thói quen ấy không có ǵ
xấu xa và sự sửa đổi cũng chẳng có ǵ
hay ho hơn cả. Vậy tốt hơn hết là cứ
để nguyên như cũ, cho đến khi nào thói quen dân
tộc ấy được chính người dân dần
dần thay đổi. Thay đổi một thói quen văn
hóa cần hàng thế kỷ, và hàng thế kỷ để
được người dân chấp nhận như
một di sản văn hóa dân tộc. Một viện hàn
lâm, hay một chính quyền không bao giờ có cái quyền
lực thiêng liêng đó.
Có người cho rằng trước
năm 1975 ở Miền Nam đă có khuynh hướng dùng I
thay cho Y. Theo thiển ư, việc dùng "I" thay cho
"Y" trước năm 1975 ở Miền Nam chưa
thể gọi là một "khuynh hướng"
được, mà đúng ra chỉ là một sự lập
dị của một vài nhà văn, nhà thơ. Thí dụ có
tác giả lấy bút hiệu là Nguyễn Ngu Í. Cũng có
thể một vài giáo sư bậc đại học mang
khuynh hướng lập dị đó. Tuy nhiên, chữ
viết là điều căn bản của ngôn ngữ cho
nên phải được bắt đầu dạy, và
dạy cho đúng ở bậc tiểu học chứ không
phải ở giảng đường đại học.
Nếu các sách giáo khoa bậc tiểu học đều
viết "ư tứ", "y lư", "lư do",
"quản lư" "Nhà Lư", "lăo luyện",
"câu chuyện", "kỹ sư"... th́ học tṛ
phải viết như thế suốt đời: Nếu
thay y bằng i là sai chính tả.Vậy th́ một giáo sư
đại học có thể giảng rằng "khuynh
hướng" mới là viết I thay cho Y trong vài
trường hợp, nhưng điều đó không làm thay
đổi ngữ pháp và chính tả Việt Nam một cách
chính thức được. Ai là người phê chuẩn
sự thay đổi ấy? Theo thiển kiến th́ các sách
giáo khoa chính thức ở Miền Nam cũng như các sách
báo được xuất bản trước năm 1975
không viết "I" thay cho "Y" trong những
chữ như kể trên, trừ một vài nhà thơ, nhà văn
không tiêu biểu. Đó không phải vấn đề
đúng sai, nhưng là một sự làm đúng theo thói quen,
theo những quy ước hay tập tục sẵn có
từ lâu. Mặc dù Alexandre de Rhodes đă viết lần
đầu tiên với "i", sau này những chữ
như "vô ư", "sử kư" hay "địa
lư" đă được viết với “y” từ khi nào
chúng ta không biết rơ, nhưng chúng đă trở thành thói
quen và là Việt ngữ. Tất cả những tác phẩm
của Tự Lực Văn Đoàn xuất bản ngày
trước mà chúng tôi đă được đọc qua
đều viết "ư tứ", "có lư", "kư
giả"... Việt Nam Sử Lược của Trần
Trọng Kim viết "nhà Lư", "Đại Việt
sử kư", nhưng ông viết "Mị
nương", "nước Xích Quỉ",
"học sĩ". Tất cả là thói quen, và là thói quen
đă được chấp nhận trong dân gian cũng
như trong văn chương tiếng Việt.
Việc "tiêu chuẩn hóa"
tiếng Việt đă được cổ vơ từ lâu
ở trong nước. H́nh như vào khoảng năm 1984,
Bộ Giáo Dục có ra văn kiện chính thức về
việc dùng I thay cho Y (tiếc rằng chúng tôi chưa
được đọc toàn bộ văn kiện chính
thức ấy). Ngoài ra, so với trước năm 1975
trong Miền Nam th́ có những thay đổi như dùng
"d" thay cho "gi" ở vài trường hợp
(trước kia trong Nam, viết "ḍng sông", "ḍng
điện" là sai chính tả). Ngày nay, trong tất
cả các tự điển VN phát hành trong nước, thí
dụ quyển Tự Điển Từ và Ngữ Việt
Nam của Nguyễn Lân nói trên, đều viết
"ḍng". (Trước 75, Trịnh Công Sơn có bài hát
"Lời của gịng sông", viết "gịng". Không
hiểu sau này xuất bản có phải sửa lại
không?) Thế nhưng "gi" trong các chữ
"giấy", "gia", "giềng",
"giờ", "giũ"... đều
được giữ nguyên. Như vậy thay đổi
một "gi" trong "gịng" có được ư nghĩa
ǵ?! Trường hợp chữ Y và I, nếu đă cho
rằng nên dùng "i" bất cứ khi nào có thể,
ngoại trừ khi Y đi với nguyên âm khác, th́ sao không
viết "i lí", "í vị", ỉ lại"
cho thống nhất?
Như vậy cho thấy rằng sự
thay thế "Y" bằng "I" chỉ là một
sự thay đổi rất phiến diện và xem
chừng không giúp ích được bao nhiêu trên phương
diện chính tả, nói chi đến những vấn
đề bao quát như ngôn ngữ học. Trái lại, thay
đổi những thói quen dân gian mà không đem lại
một giá trị dân tộc chắc chắn nào chỉ
khiến cho ngôn ngữ Việt thêm xáo trộn, và tệ
hơn nữa là gây thêm một sự chia rẽ trong tư
tưởng người đọc và viết chữ
nước nhà. Bây giờ, dù muốn dù không, khi đọc
một bài viết với những từ ngữ như
"lí luận", "nước Mĩ"...,
người đọc cũng biết ngay được
đó là một bài viết của một tác giả trong
nước. Trái lại, với những chữ như
"quản lư", "lư do", "mỹ thuật"
th́ độc giả biết ngay đó là một bài
viết từ người Việt sống ở hải
ngoại, hoặc là một bài từ trong nước
nhưng tác giả là người đă sống và đi
học tại miền Nam trước năm 1975. Làm như
vậy có lợi ǵ không, hay chỉ khiến cho độc
giả có một thành kiến đối với tác giả
mà bỏ quên đi phần nào giá trị nội dung của
bài viết, nếu không muốn nói đến một
sự chia rẽ người đọc và viết
tiếng Việt ra thành hai
khối khác nhau?
Trong khuôn khổ của bài này và với
kiến thức hạn hẹp của ḿnh, người
viết không mong muốn ǵ hơn là được phát
biểu ư kiến riêng về một khía cạnh nhỏ
trong tiếng Việt để tỏ ḷng trân trọng
đến việc ǵn giữ tiếng mẹ đẻ
như một bổn phận của mọi người
Việt Nam yêu quư tiếng nước nhà. Việc cải
tổ tiếng Việt không phải một sớm một
chiều, và không phải một vài người, một
phong trào, hay ngay cả một chính phủ có thể làm được
bằng văn bản hành chánh. Tập tục của
một dân tộc bao giờ cũng có hay, có dở. Nhưng
trừ ra những hủ tục cần phải bài trừ
như tảo hôn, giết chóc để tế lễ
thần linh..., c̣n th́ tất cả những thói quen đă
làm nên nguồn cội cho một ngôn ngữ, một dân
tộc chính là những di sản văn hóa cần phải
được giữ ǵn và trân trọng. Mọi sự thay
đổi một cách không cần thiết và không có căn
bản chỉ làm cho xáo trộn những nề nếp dân
tộc lâu đời, yên b́nh và trân quư đó mà thôi.
Ngày 30 tháng 4 năm 2010.
Nguyễn
Hưng
(Khóa 7)