Ðọc Hương Rừng Cà Mau của Sơn Nam

Lê Tấn Tài

 

 

         Sơn Nam sinh ra ở vùng đất U Minh, nơi đó là những cánh rừng tràm bạt ngàn kéo dài từ Rạch Giá qua Sóc Trăng, Bạc Liêu và đến tận Cà Mau. Trong Hương Rừng Cà Mau Sơn Nam  viết vùng đất nầy thời xưa như là một mảnh đất đầy những chuyện rừng, chuyện săn bắn,  chuyện tình người trong thế giới hoang sơ, kỳ bí, lạ lùng, thâm u của miền Cà Mau, của những  người di dân trong công cuộc khẩn hoang , với những  tình tiết giữa người và người, giữa người và thiên nhiên, giữa người và rừng tràm, sông sâu, giữa  người và thú rừng hoang dã, giữa người và những đau khổ sâu sắc lẫn hạnh phúc nhẹ nhàng của những tâm hồn bình dị  . Ðấy  là lối sống, suy nghĩ và tình cảm của những người dân ở buổi đầu đi khẩn hoang. Những câu chuyện kể của ông chẳng khác chi các chuyện “cao bồi” miền Viễn Tây của Hoa Kỳ .

Đọc "Hương rừng Cà Mau"  để thấy được cái phong vị độc đáo của một thời xa xưa , thời của những câu thơ mở đầu đọc nghe đứt ruột:
"muỗi vắt nhiều hơn cỏ

chướng khí mù như sương

thân không là lính thú

 sao chưa về cố hương

 chiều chiều nghe vượn hú

 hoa lá rụng buồn buồn

 tiễn đưa về cửa biển

những giọt nước lìa nguồn

đôi tâm hồn cô tịch

nghe lắng sầu cô thôn..."


Những nhân vật của "Hương rừng Cà Mau" cũng có nhiều nét khác thường độc đáo. Họ là những dị nhân sống trong một thời buổi giao thời, đơn giản bình dị nhưng nhiều khi cũng có trí phán đoán sâu sắc. Nghe ông già Năm xay lúa nói  chuyện thời tiết trong “Ông già xay lúa” hay nghe ông mù Vân Tiên bàn về chuyện cá ăn câu trong "Người mù giăng câu", chúng ta  thấy được cái học  không phải chỉ ở học đường mà còn là  từ kinh nghiệm  thu lượm hàng ngày . Những tên Hòn Cổ Tron, sông Gành Hào, rừng U minh... hiện ra  như trong một huyền thoại nào tưởng chỉ có trong  truyện cổ tích.

Chuyện hát bội giữa rừng U Minh: "Câu chuyện hát bội hồi xưa tới đây cũng khá dài rồi. Nhưng chưa hết, vì còn mấy ông cọp nọ. Có lẽ mấy ông mê hát bội hơn loài người. Chừng một hai tháng sau, cái sân khấu nọ tốc nóc, bao nhiêu nọc tràm làm hàng rào đã lung lay ngả nghiêng trên dòng nước, chừng đó người ta thấy một đôi ông cọp thường tới lui ngồi cú rũ dưa gốc cây gừa bên bờ rạch. Nhất là đêm có trăng, mấy ông le lưỡi dài thòn, như nhớ tiếc bao nhiêu con mồi ngon, bao nhiêu tiếng kèn tiếng trống. Biết đâu về sau này mấy tiếng "coi hát cọp" là do sự tích của mấy ông hồi xưa không chừng!".

Chuyện Ông Cả gả con gái Út về rừng, vùng đất mà ông nghe toàn chuyện đĩa kinh hoàng…

Bà Cả thở dài :

- Tôi ngại quá. Mình có mụn con gái. Gả đi xa xôi không nói làm gì. Ngặt xứ đó kỳ quái, hiểm nguy. Nội cái tên Cạnh Đền nghe cũng dị hợm...

- Tưởng bà ngại điều gì chớ chuyện đó thì dễ. Dân ở dưới hiền lành lắm. Bộ thiên hạ ăn thịt con gái mình sao mà nguy hiểm?

- Tức chết đi ! Nói vậy mà không hiểu ! Ông không nghe người ta hát sao ?

 Xứ đâu hơn xứ Cạnh Đền,

Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lềnh như bánh canh.

Ông Cả nghe qua, cười ngất hồi lâu. Bà Cả càng sôi gan :

- Ông cười tôi nói bậy à ? Ở xứ đó chạng vạng là ai nấy phải vô mùng để... ăn cơm

- Nhưng sự thật là họ ăn cơm sớm, hồi cỡ bốn giờ chiều để khỏi cần vô mùng. Bà nghe ai nói lại vậy ?

- Ông có tài binh vực cho xứ Cạnh Đền. Dẹp chuyện muỗi một bên, tôi bàn qua chuyện đỉa để ông có giỏi thì cãi. Nè, tôi nghe nói... phen đó cô dâu nọ ở chợ Cần Thơ gả xuống. Cổ xuống bến làm cá, xong xuôi đem trút vô chảo, nấu canh chua. Dè đâu chừng con đỉa đeo trong khứa cá. Cô dâu nọ bị đuổi vì tội... nấu canh chua bằng đỉa. Oan ức quá. Xứ đỉa nhiều, đâu ai dè trước !”

Người cha ngậm ngùi khi phải  gã con gái về ở chốn rừng thiêng nước độc, họa hoằn lắm mới có cơ hội gặp con , gặp rễ, kể cả những đứa cháu ngoại dễ thương xinh xinh, nhưng biết làm sao:  “Ông Cả im lặng, nghĩ đến cái ngày gần đất xa trời của mình. Nó không còn bao xa nữa. Ngày đó, ai phò giá triệu, ai rinh quan tài ? Nhìn bụi tre già dưới bến mà ông tủi thân : Măng non mọc kề bên gốc. Phận ông có khác ; con gái, con rể và đám cháu ngoại ở chốn xa xôi kia làm sao được gần gũi để ông thấy mặt lần đầu - và cũng là lần chót - khi ông tàn hơi. Nước mắt muốn tươm ra, ông cố dằn lại. Ông hiểu đời ông chưa tới mức đen tối, còn chút ánh sáng lập lòe trong tương lai vô biên vô tận …“ (Cô Út Về Rừng)

Hay nỗi đau của người cha bất lực trước căn bệnh nan y của người con gái xinh đẹp của ông…

“Ông hương giáo đã hiểu nguồn cơn. Mớ tóc rối nằm cuộng đống trên bàn khiến ông xúc cảm, không che giấu được cơn buồn. Chiếc gương mờ soi đôi má ửng của Hoàng Mai, màu ửng đỏ lạ thường, không biến đổi dầu khi nàng sợ hãi. - Từ hồi tấm bé, làn da của Hoàng Mai mịn quá, bóng quá. Trăm sự đều do đó mà ra... Ông thở dài, cũng như ông đã thở dài hồi mấy năm trước, tuy gió bấc về không lạnh lắm nhưng Hoàng Mai đòi đốt lửa để sưởi rồi dẫm chân lên than hồng mà cưòi. Ðêm đến, ông nghe tiếng rên khe khẽ. Ngỡ là con gái nhuốm bịnh, ông đến gọi cửa đôi ba lần. Hoàng Mai nằm đó, tỉnh mà như say, hơi thở hổn hển, đôi mắt úp vào chiếc gối mềm như trốn tránh mấy sợi tơ trăng buông xuống từng hồi, khi gió rạt rào khẽ rung làm hở ra mấy mí lá che trên đầu vách. Bịnh của nàng, ông đoán được, ngặt không muốn nói rõ tên ra : bịnh nan y - bịnh cùi. Ông chỉ khuyên con gái năng đi guốc vì ở rừng này... "phong" nhiều lắm.  ( Hương Rừng )

Kể cả nỗi ngượng ngùng của người thanh niên lỡ trót yêu người con gái ở rừng hoang U Minh, nhưng đành phải ngẫn mặt quay lưng trước căn bệnh hiểm nghèo của nàng…

 “Chú hiểu ý. "À té ra bấy lâu nay ông hương giáo thương mình". Chú đánh bạo tìm bàn tay nàng. Nàng lắc đầu : - Em hơi mệt, như vậy... Rồi nàng nâng tay áo lên, thứ tay áo lỏng thỏng quá rộng quá dài : - Anh nắm cái chéo tay áo này, em cũng đủ vui rồi. Cảm động làm sao ! Ngạc nhiên làm sao ! Một mùi hôi hám từ trong tay áo bay ra. Khi níu cái chéo tay áo của người đẹp. Tư Lập thấy rõ ràng bên trong : ngón tay của nàng rụng mất hồi nào, chỉ có năm cuộn vải nhỏ vấn khéo léo thay thế. Hôm sau, chú viện cớ ra đi lúc mùa bông tràm nở trắng rực. Chú không thèm làm nghề ăn ong nữa. Hàng trăm tấm kèo bằng cây mun, chú giao lại cho ông hương giáo. Chú về ở Long Xuyên. Nhưng hương rừng có ma lực quyến rũ. Lúc mới đến thì vui. Ở lâu lại sanh buồn. Xa cách lâu ngày thì đâm ra nhớ không nguôi, không trở lại thì không được…( Hương Rừng )

Nhà văn Sơn Nam đã cho chúng ta thấy được những hình ảnh trong cuộc đời của người dân  miền Nam  mà người đọc  phải xót xa cho người ở cảnh ngộ không lối thoát , sống trong rừng thiêng nước độc, nỗi  lo âu sinh kế và đối đầu với những con thú rừng nguy hiểm, chực chờ lấy mạng của họ bất cứ lúc nào, nhưng  họ vẫn   nhẫn nhục chịu đựng , không một chút nao núng, chùn bước, hay động lòng…. Cái ao lớn ước một công đất, bên bờ, dưới nước, toàn là lau sậy, dây cóc kèn. Sấu nổi lên, chen vào những bức tranh mầu xanh ấy những vệt đen chi chít : con thì nằm dài như chiếc xuồng lường, con thì dùng hai chân trước mà vạch sậy, ngóng mỏ xéo lên trời như họng súng thần công đại bác. Biết có loài người đến quan sát, chúng vẫn điềm nhiên sưởi nắng, bắt cá . Duy có con sấu già trợn mắt hướng về lũ người rồi bò thối lui vào giữa lòng ao, để thủ thế.”

"Tới ao sấu, ông năm Hên đi vòng quanh dòm địa thế rồi ngồi xuống uống một chung rượu. Kế đó ông với tôi lấy xuổng đào một đường nhỏ, ngày một cạn, từ bờ ao lên rừng chừng mười thước. Xong xuôi ông biểu tôi bứt cho ổng một nắm dây cóc kèn. Phần ổng thì lo đốn một đống cây mốp tươi, chặt ra khúc chừng ba tấc".

Sấu bò lên rừng theo con đường đào sẵn hồi nãy. Tức thời, ông Năm Hên chạy lại. Sấu há miệng hung hăng đòi táp ổng. Ổng đút vô miệng sấu một khúc mốp. Sấu táp lại, dính chặt hai hàm răng : như mình ngậm một cục mạch nha quá lớn, muốn há miệng cho rộng để nhả ra cũng không được. Sau khi bị khúc mốp khóa miệng, còn cái đuôi đập qua đập lại.” (Bắt Sấu Rừng U Minh Hạ)

Họ sống bằng đủ nghề, ngoài việc bắt cá, nuôi ong, bắt sấu, ruộng nông, họ lưu lạc nay đây qua mai đó qua nghề len trâu, kiếm cỏ cho đàn trâu ăn giữa rừng hoang, lẫn lộn với voi và cọp. Chỉ cần một chút sơ xuất là họ có thể bị mất hết gia tài .

Đồng bằng Sông Cửu Long mỗi năm nước lại rùng rùng đổ về,  mênh mông biển nước. Người ta đua nhau “len” trâu của mình lên miệt Thất Sơn. Nói sao cho hết ý nghĩa của chữ “len”. Ai không điều kiện thì cùng trâu ở lại. Người thì có cá, trâu lại không có rơm. Lây lất với bông điên điển qua mùa nước nổi. Nước rút hết về biển cả, bày đất ra thành biển cỏ ngút ngàn. Trâu len từ Thất Sơn lại trở về no tròn. Nhìn lũ trâu ở tại chỗ trơ xương, một hàm răng rụng mà thương hại,  buồn vay.

“Từ Ba Thê cả bầy trâu len qua miệt Bảy Núi. Oai vệ lắm kìa ! Voi đi một lần đôi ba chục con là cùng, cọp đi hai ba con là nhiều ; cảnh đó ở miệt rừng ai cũng thấy. Ðằng này, trâu lội nước năm ba trăm con, đen đầu, đặc nước...” (Mùa Len Trâu)

Nhưng có người vẫn vui sống, dù mất mát, đau khổ chụp xuống người họ…Chuyện “Người mù giăng câu” vui thú với  nghề vừa để độ sinh độ nhật, vừa tận hưởng cái thú tiêu dao giữa đất trời và sông nước :

 “Đứa con trai độc nhứt của ông đã bị "A lơ măn" (người Ðức) giết lúc phải cầm súng giữ vùng An Sác Lo Ren cho Pháp. Ta có thể nói : ông mù vì khói lửa của trận Âu châu đại chiến kỳ nhứt. Còn lại một mình, ông cất căn chòi ở Rộc Lá, ấp Tây Sơn. Có người chất vấn “Ðã mù sao còn giăng câu được ? “Ông đáp “Mù lòa là mắt không thấy, chớ nào phải vô tri vô giác ? Con người có thể thấy bằng lỗ tai, bằng hai bàn tay, bằng mũi... Mình đây đui mù, như thiếu cây cột cái, nhưng nếu khéo léo một chút cũng cất được mái nhà nhỏ che gió che mưa... hà huống là việc giăng câu ! Giăng câu lúc ban đêm, cặp mắt không cần thiết. Người không mù, họ đốt lửa trước xuồng un muỗi cho vui mắt, ấm lòng, chớ nào phải soi đường đi. Ðó là chưa nói tới loài cá! Nó ở dưới nước, núp trong cỏ, người có mắt cũng như tôi, làm sao thấy cá được. Phải dùng óc xét đoán để hiểu tánh ý của nó, nhờ đó mình mới giăng được nhiều cá, ngày càng vui thú với nghề nghiệp của mình.”

 

Còn một chuyện hay khác "Tình nghĩa giáo khoa thư " cũng không kém phần ý nhị . Xin trích đoạn :

 

Tư Có nói :

-Cha tôi chết, má tôi giữ mấy pho sách, dạy lại tôi. Ðó là sách Quốc Văn giáo khoa thư, thầy còn nhớ không?

Thầy phái viên cười:

- Nhớ chớ. Làm sao mà quên được! Hồi nhỏ tôi hớt “ca rê”, tay xách tòn ten bình mực đi học ở trường làng. Hồi đó, trí óc minh sáng suốt, nhớ dai lắm. Bây giờ lớn tuổi, đầu bạc hoa râm, đi làm ăn rày đây mai đó, nhớ nhà, nhớ trường học, nhớ làng xưa.

Tư Có nói:

- Chắc là thầy muốn nói bài “chốn quê hương đẹp hơn cả” chớ gì?

Rồi chú đọc một hơi:

- Một người đi du lịch đã nhiều nơi. Hôm về nhà, kẻ quen người thuộc, làng xóm, láng giềng đến chơi đông lắm. Một người bạn hỏi: ông đi du sơn du thủy...

- Ðó đa! Ðó đa! Anh Tư nhớ kỹ quá... Người du lịch mới trả lời: ở chốn quê hương... từ cái bụi tre ở xó vườn cho đến con đường khúc khuỷu trong làng, cái gì cũng gợi cho tôi những mối cảm tình chứa chan... Bài đó có hình ông già mang kiếng, chống gậy nói chuyện với mấy người khăn đống áo dài.

- Thì hình nào cũng khăn đống áo dài. Trừ ra cái hình thằng nhỏ chăn trâu cầm roi: ai bảo chăn trâu là khổ... Không, chăn trâu sướng lắm chứ.

Thầy phái viên phụ họa theo như cùng hợp xướng:

- Ðầu đội nón mê như lọng che, tay cầm cành tre như voi ngựa, ngất nghểu ngồi trên mình trâu, tôi nghe chim hót trong chòm cây, mắt trông bướm lượng trên đám cỏ...

Rồi thầy kéo qua những đoạn khác mà thầy nhớ:

- Hay quá! Nhà báo bây giờ không ai bằng. Văn chương như vậy là cảm động lòng người... Như cái hình ông già đẩy xe bò lên dốc, có hai đứa học trò kéo dây tiếp sức. Trời nắng to. Ðường thì dốc. Một ông lão đẩy cái xe lợn. Trên xe có ba bốn con lợn to, chân trói bụng phơi và mồm kêu eng éc...

Tư Có vỗ trán:

- Còn ông già khuân tảng đá nữa, thấy mà thương: Trời nhá nhem, chạng vạng tối, tôi thấy một ông cụ già hì hục khuân tảng đá. Ông cụ nhắc lên để xuống đến bốn năm lần mới đem được từ giữa đường đến chỗ bụi cây mà bỏ đấy... Lão đi lỡ vấp phải tảng đá này, sầy cả chân đau lắm nên khuân bỏ vào đây, sợ có người vấp nữa chăng.

Thầy phái viên lại không chịu rằng mình kém trí nhớ:

- Ngang hình ông già đó, trương phía tay trái có bài chọn bạn mà chơi, thói thường gần mực thì đen. Cha chỉ ngón tay, con đứng khoanh tay cúi đầu mà nghe. Dưới chót lại có hàng chữ: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.

Tu Có gất đầu:

- Ðó là ngụ ý răn he gương tốt thói xấu. Phải siêng năng như Sửu chăm học, ngồi bên đèn mà đọc sách; đừng lười biếng như thằng Bình đánh vòng. Phải bền chí học hành. Ờ thầy phái viên chắc nhớ cái hình con kiến tha mồi! Văn chương nghe như đờn Nam Xuân: Nước mềm, đá rắn thế mà nước chảy mãi đá cũng phải mòn. Sợi dây nhỏ, cây gỗ lớn, vậy và dây cưa mãi cũng đứt. Con kiến nhỏ, cái tổ to, thế mà kiến tha lâu cũng đầy tổ. Người ta cũng vậy...”

 

 Hồi nhỏ chúng ta ai cũng học sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, nay  chép lại một đoạn văn trên để nhớ lại cái thời đó .

 

 Đọc Hương Rừng Cà Mau, để  hình dung lại những   hoạt cảnh  một thời  khẩn hoang xa xưa của ông cha  chúng ta .  Nhớ đến một miền Nam  chỉ còn  phảng phất  trong tâm tưởng của kẻ lưu lạc xứ người, nhưng  bản sắc canh chua, nước mắm, cá kho... thì có bao giờ phai !